Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính kháng kháng sinh ở mức độ phân tử của salmonella spp phân lập từ thực phẩm tại thành phố hồ chí minh

Nghiên cứu tính kháng kháng sinh ở mức độ phân tử của Salmonella spp từ thực phẩm tại TP Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao an toàn thực phẩm.

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

145
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

SUMMARY

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình thực phẩm nhiễm Salmonella spp. trên thế giới

1.2. Tình hình thực phẩm nhiễm Salmonella spp. tại Việt Nam

1.3. Thực trạng sử dụng và tồn dư kháng sinh

1.4. Tình hình kháng kháng sinh của Salmonella spp. trên thế giới

1.5. Tình hình kháng kháng sinh của Salmonella spp. tại Việt Nam

1.6. Đặc điểm sinh học của Salmonella spp.

1.6.1. Đặc điểm hình thái

1.6.2. Đặc tính nuôi cấy

1.6.3. Đặc tính sinh hóa

1.7. Hệ gen của Salmonella spp.

1.7.1. Cơ chế kháng aminoglycoside của Salmonella spp.

1.7.2. Cơ chế kháng β-lactam của Salmonella spp.

1.7.3. Cơ chế kháng phenicol của Salmonella spp.

1.7.4. Cơ chế kháng quinolone của Salmonella spp.

1.7.5. Cơ chế kháng tetracycline của Salmonella spp.

1.7.6. Cơ chế kháng sulfonamide/trimethoprim của Salmonella spp.

1.8. Tình hình nghiên cứu gen kháng kháng sinh của Salmonella spp.

1.9. Yếu tố di truyền di động

1.9.1. Integron nhóm 3, 4 và 5

1.9.2. Gen cassette

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Môi trường nuôi cấy, hóa chất, thuốc thử dùng phân lập Salmonella spp.

2.2. Môi trường dùng khảo sát tính nhạy với kháng sinh của Salmonella spp.

2.3. Hóa chất sinh học phân tử

2.4. Chủng chuẩn vi sinh vật dùng làm kiểm soát

2.5. Phương pháp

2.5.1. Phương pháp xác định cỡ mẫu

2.5.2. Phương pháp lấy và bảo quản mẫu

2.5.3. Phương pháp phân lập Salmonella spp.

2.5.3.1. Chuẩn bị mẫu thử và huyền phù ban đầu
2.5.3.2. Tăng sinh sơ bộ không chọn lọc
2.5.3.3. Tăng sinh chọn lọc

2.5.4. Phương pháp xác định serovar của Salmonella spp.

2.5.5. Khảo sát tính nhạy với kháng sinh của Salmonella spp.

2.5.5.1. Lựa chọn kháng sinh thử nghiệm
2.5.5.2. Phương pháp xác định tính nhạy với kháng sinh của Salmonella spp.

2.5.6. Ly trích DNA của Salmonella spp.

2.5.7. Phương pháp phát hiện Salmonella spp. bằng kỹ thuật PCR

2.5.8. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân tử liên quan đến sự đa kháng của Salmonella

2.5.8.1. Khảo sát sự hiện diện plasmid không tương hợp của các chủng Salmonella
2.5.8.2. Khảo sát sự hiện diện của các nhóm integron và vùng gen cassette
2.5.8.3. Khảo sát sự hiện diện gen kháng kháng sinh của Salmonella spp.

2.5.9. Thành phần và quy trình nhiệt của các phản ứng s-PCR

2.5.10. Thành phần và quy trình nhiệt của các phản ứng m-PCR

2.5.11. Điện di và đọc kết quả

2.5.12. Giải trình tự thế hệ mới

2.5.13. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. đối với các nhóm thực phẩm

3.2. Đặc điểm kháng kháng sinh của các chủng Salmonella spp.

3.2.1. Khả năng kháng kháng sinh của các chủng Salmonella spp.

3.2.2. Khả năng kháng từng loại kháng sinh của các chủng Salmonella spp.

3.2.3. Khả năng kháng từng loại kháng sinh của các chủng Salmonella spp. theo nguồn phân lập

3.3. Kiểu hình kháng kháng sinh của các chủng Salmonella spp.

3.4. Kết quả xác định serovar của Salmonella spp.

3.5. Mức độ kháng từng loại kháng sinh của serovar theo nguồn phân lập

3.6. Sự hiện diện các nhóm integron của Salmonella

3.7. Đặc điểm vùng gen cassette của Salmonella dương tính với integron 1, 2

3.8. Đặc điểm plasmid của Salmonella spp.

3.9. Sự hiện diện gen mã hóa sinh ESBL

3.10. Sự hiện diện gen kháng nhóm tetracyline

3.11. Sự hiện diện gen kháng nhóm phenicol

3.12. Sự hiện diện gen kháng nhóm quinolon

3.13. Sự hiện diện gen kháng nhóm aminoglycoside

3.14. Sự hiện diện gen kháng nhóm sulfonamide

3.15. Phân tích mối quan hệ các nhóm gen kháng với cơ chế đa kháng của Salmonella

3.16. Đánh giá chất lượng giải trình tự

3.17. Lắp ráp de novo và xác định nguồn gốc contigs

3.18. Kết quả giải trình tự nhiều locus (MLST) và xác định serotype

3.19. Phân tích nhóm gen kháng liên quan yếu tố di truyền di động

3.20. Phân tích các nhóm gen kháng kháng sinh của Salmonella

3.20.1. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm β-lactam

3.20.2. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm phenicol

3.20.3. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm quinolon

3.20.4. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm aminoglycoside

3.20.5. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm tetracycline

3.20.6. Nhóm gen liên quan đến kháng nhóm sulfonamide/trimethoprim

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp

Nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp. trong thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp bách. Salmonella spp. là một trong những tác nhân gây bệnh phổ biến nhất trong thực phẩm, dẫn đến nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tình hình kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và an toàn thực phẩm. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình kháng kháng sinh của Salmonella spp. trong thực phẩm tại khu vực này.

1.1. Tình hình nhiễm Salmonella spp. trong thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh

Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. trong thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh đã được ghi nhận là 16,84%. Các mẫu thịt có tỷ lệ nhiễm cao nhất, tiếp theo là thủy hải sản và rau củ quả. Việc phát hiện Salmonella spp. trong thực phẩm cho thấy sự cần thiết phải kiểm soát an toàn thực phẩm chặt chẽ hơn.

1.2. Tác động của kháng kháng sinh đến sức khỏe cộng đồng

Kháng kháng sinh của Salmonella spp. không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn gây ra gánh nặng cho hệ thống y tế. Việc điều trị các bệnh do Salmonella gây ra trở nên khó khăn hơn khi vi khuẩn kháng lại các loại thuốc thông thường. Điều này đòi hỏi sự chú ý từ các cơ quan chức năng và cộng đồng.

II. Vấn đề kháng kháng sinh của Salmonella spp

Kháng kháng sinh của Salmonella spp. đang trở thành một thách thức lớn trong ngành thực phẩm. Việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và sản xuất thực phẩm đã dẫn đến sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng của Salmonella spp. đối với các kháng sinh như TE, AMP, STR, C và SXT dao động từ 34,67% đến 52,00%.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến kháng kháng sinh

Nguyên nhân chính dẫn đến kháng kháng sinh là việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý kháng sinh trong chăn nuôi. Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và hình thành các chủng kháng thuốc. Việc kiểm soát và quản lý việc sử dụng kháng sinh là rất cần thiết.

2.2. Hệ quả của kháng kháng sinh trong thực phẩm

Hệ quả của kháng kháng sinh trong thực phẩm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn làm giảm hiệu quả điều trị. Các bệnh do Salmonella spp. gây ra có thể trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong.

III. Phương pháp nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp

Nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp. được thực hiện thông qua các phương pháp phân lập và xác định tính nhạy cảm với kháng sinh. Các mẫu thực phẩm được thu thập từ các chợ bán lẻ tại TP. Hồ Chí Minh và được kiểm tra bằng các phương pháp vi sinh hiện đại.

3.1. Phương pháp phân lập Salmonella spp.

Phương pháp phân lập Salmonella spp. bao gồm việc sử dụng môi trường nuôi cấy đặc hiệu và các kỹ thuật xác định serovar. Điều này giúp xác định chính xác các chủng vi khuẩn có mặt trong thực phẩm.

3.2. Phương pháp xác định tính nhạy cảm với kháng sinh

Tính nhạy cảm với kháng sinh được xác định thông qua các thử nghiệm như khuếch tán đĩa và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC). Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng về khả năng kháng của Salmonella spp..

IV. Kết quả nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh của Salmonella spp. là rất cao. Trong số 21 chủng vi khuẩn được phân lập, có 7 serovar được xác định, với tỷ lệ kháng cao nhất đối với các kháng sinh như TE và AMP. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh của các serovar

Tỷ lệ kháng kháng sinh của các serovar Salmonella spp. cho thấy sự đa dạng trong khả năng kháng thuốc. Các serovar như Kentucky và Potsdam có tỷ lệ kháng cao, điều này cần được theo dõi chặt chẽ.

4.2. Sự hiện diện của integron trong Salmonella spp.

Sự hiện diện của integron trong các chủng Salmonella spp. cho thấy khả năng di truyền kháng thuốc. Các integron nhóm 1, 2 và 3 được phát hiện ở tất cả các serovar, cho thấy sự lây lan của tính kháng kháng sinh.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong nghiên cứu kháng kháng sinh

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy kháng kháng sinh của Salmonella spp. là một vấn đề nghiêm trọng tại TP. Hồ Chí Minh. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu tình trạng này. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện quy trình sản xuất thực phẩm.

5.1. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Các biện pháp can thiệp cần bao gồm việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và sản xuất thực phẩm. Cần có các chương trình giáo dục cộng đồng về an toàn thực phẩm.

5.2. Nghiên cứu tiếp theo về kháng kháng sinh

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định các cơ chế kháng kháng sinh và phát triển các phương pháp điều trị mới. Điều này sẽ giúp cải thiện hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình thực phẩm nhiễm Salmonella spp. trên thế giới Trên thế giới, các vụ ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật chiếm khoảng 70% tổng số ca ngộ độc thực phẩm. Tại các nước châu Á, vi khuẩn Salmonella spp. là nguyên nhân hàng đầu gây ra các vụ ngộ độc, chủ yếu ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc và trong khu vực Đông Nam Á.

Theo một báo cáo hàng năm của EFSA và ECDC, cứ ba vụ ngộ độc thực phẩm ở Châu âu năm 2018 thì gần một vụ là do Salmonella gây ra. Các quốc gia thành viên Châu âu đã báo cáo 5.146 vụ ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến 48.581 trong số các vụ ngộ độc là do Salmonella, 67% trong số đó có nguồn gốc từ Slovakia, Tây Ban Nha và Ba Lan, chủ yếu liên quan đến trứng. Lai và ctv (2014) khi xác định sự phân bố serotype, mối quan hệ di truyền và kháng kháng sinh của Salmonella spp. từ thực phẩm có nguồn gốc động vật ở tỉnh Sơn Đông-Trung Quốc trong năm 2009 và 2012 cho thấy 50 trong số 692 mẫu thịt heo dương tính với vi khuẩn Salmonella spp.

Các serovar phổ biến nhất là Salmonella Derby 29 mẫu chiếm 58%, Salmonella Typhimurium 9 mẫu chiếm 18% và Salmonella Enteriditis 6 mẫu chiếm 12%. Hơn 99% các vi khuẩn Salmonella spp. phân lập được kháng với ít nhất một kháng sinh và mức kháng của vi khuẩn trong năm 2012 cao hơn so với năm 2009. Trong năm 2011, tại Romania khi tiến hành thu thập 650 mẫu thịt gà và thịt heo từ các đơn vị sản xuất và thị trường bán lẻ khác nhau, có 149 mẫu phân lập nhiễm Salmonella spp.

Báo cáo khác cho biết, đã tiến hành thu thập 1096 mẫu thịt heo từ 20 chợ ở 4 thành phố của tỉnh Tô Giang-Trung Quốc từ tháng 8/2010 đến năm 2012. Kết quả cho thấy có 154 mẫu dương tính với Salmonella spp. trong tổng số 163 mẫu phân lập Salmonella spp. đã được thu hồi, với 14 serovar được xác định trong đó Salmonella Derby là phổ biến nhất (47,9%); tiếp theo là Salmonella Typhimurium (10,4%); Salmonella Meleagridis (9,2%), Salmonella Anatum (8,6%) và Salmonella London 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Tadee và ctv (2014) đã xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella spp. tại 3 lò mổ đại diện của các tỉnh Chiang Mai và Lamphun của Thái Lan từ tháng 5 đến tháng 10/2013 cho thấy mức độ nhiễm và ô nhiễm tổng thể là 11,85%, 0,34 MPN/cm2 tương ứng.2 Tình hình thực phẩm nhiễm Salmonella spp. tại Việt Nam Ở Việt Nam, tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước. Số ca ngộ độc ngày càng tăng và mức độ nghiêm trọng đáng báo động, số người ngộ độc thực phẩm dẫn đến tử vong không phải là hiếm.

Bộ Y tế (2008) đã tổng hợp số liệu thống kê của Cục an toàn Vệ sinh thực phẩm trong vòng 8 năm (2000-2007) cho thấy: nước ta, xảy ra 1.616 vụ ngộ độc thực phẩm làm 41.898 người mắc, 436 người tử vong thì có 178 vụ làm 4.036 người mắc và 7 người tử vong do sử dụng thức ăn đường phố. Trong số các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm thì nguyên nhân do vi sinh vật chiếm tỷ lệ cao nhất (43,20%). Khi kiểm tra 60 mẫu thịt trên địa bàn Hà Nội năm 2006: Số mẫu không đạt do nhiễm Salmonella spp. Phạm Hồng Ngân và ctv (2014) xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella spp.

phân lập từ thịt heo ở một số chợ thuộc huyện Gia Lâm đã cho biết có 56/120 mẫu thịt heo bị nhiễm chiếm tỷ lệ 46,7%. Tỷ lệ này có sự khác nhau giữa các chợ với tỷ lệ dao động từ 30,0-66,7%. Lê Hữu Nghị và Tăng Mạnh Nhật (2005) đã tiến hành xác định Salmonella trong thịt bò và heo được lấy tại các lò mổ và bày bán tại chợ Đông Ba, chợ Tây Lộc-Huế và cho thấy 11/44 mẫu kiểm tra không đạt (25,00%). Công bố khác về tỷ lệ nhiễm Salmonella spp.

ở thân thịt heo là 55,90% và thịt gà là 64,00% (Võ Thị Trà An và ctv, 2006). Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh đã lấy 1.150 mẫu thịt heo, gà, bò tươi sống tại các chợ trên địa bàn thành phố để xét nghiệm. Kết quả, 385 mẫu thịt nhiễm Salmonella spp. Trong đó, tỷ lệ nhiễm trong thịt heo cao nhất gần 40%, thịt gà hơn 35%, thịt bò gần 31%.

Tính trung bình, tỷ lệ thịt động vật tươi sống bày bán tại các chợ nhiễm Salmonella spp. Lê Văn Du và Hồ Thị Kim Hoa (2017), với tổng số 150 mẫu thịt kiểm tra thì 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát hiện 40,67% mẫu nhiễm Salmonella. Tỉ lệ nhiễm vi khuẩn này trên thịt heo là 43,75% và gà là 37,14%. Kết quả này cao hơn kết quả khảo sát các mẫu thịt được lấy tại các cơ sở giết mổ tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 với tỉ lệ nhiễm Salmonella spp.

trên thịt heo và gà là 31,6%. Tuy nhiên, kết quả khảo sát năm 2014 lại thấp hơn kết quả khảo sát của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Long (2015) trên thịt heo và gà bán tại các chợ lần lượt là 43,3% và 41,6%.3 Thực trạng sử dụng và tồn dư kháng sinh Thực trạng sử dụng kháng sinh phổ biến trong nông nghiệp, trong thức ăn chăn nuôi, điều trị và dự phòng cũng góp phần làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh (Nguyen và ctv, 2013). Mặc dù số liệu về thực trạng sử dụng kháng sinh trên gia cầm còn tương đối hạn chế, ước tính mức tiêu thụ chung đối với kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam cho thấy ngành chăn nuôi gà sử dụng 42,2 tấn kháng sinh (95% CI: 26,2-58,2) và chăn nuôi heo sử dụng 981,3 tấn kháng sinh mỗi năm (95% CI: 616,5-1346,0) và tổng cộng có 1.023,5 tấn kháng sinh được sử dụng hàng năm (95% CI: 642,8-1404,2) (Carrique-Mas, 2015). Bên cạnh đó, tồn dư kháng sinh trong thực phẩm là một vấn đề đáng quan tâm, mối nguy làm gia tăng thực trạng kháng kháng sinh vi sinh vật, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch và đường hô hấp, gây ung thư (SMZ, T và FX); bệnh ở thận (GN); độc cho gan, tuỷ xương (C) và dị ứng (P và TE).

Năm 2007, các cơ sở chăn nuôi tại Bình Dương, Lã Văn Kính ghi nhận kháng sinh chlortetracycline được sử dụng rộng rãi trong thức ăn (53,9%) với nồng độ trung bình là 140 ppm và cao nhất là 275 ppm, cao gấp 5-6 lần so với nồng độ khuyến cáo dùng với mục đích điều trị và kích thích tăng trưởng. Năm 2012 có 68/553 (12,3%) mẫu thịt có TE vượt mức giới hạn cho phép; năm 2013, có 24/94 mẫu (25,53%); năm 2014, phát hiện 7/300 mẫu (2,33%); và năm 2015 phát hiện 37/159 mẫu (23,27%) (Chi cục Thú y TP. Dư lượng enrofloxacin trong khảo sát này thấp hơn so với kết quả khảo sát các mẫu thịt gà ở 19 tỉnh miền Bắc trong cùng năm (2015) của Chử Văn Tuất và ctv (2016). Trong khảo sát này, 19/66 mẫu thịt gà có dư lượng enrofloxacin với hàm lượng cao từ 128,7-1161,0 µg/kg và 1,5% mẫu thịt gà có C.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Văn Du và Hồ Thị Kim Hoa (2017) cho biết sulfadimidine được tìm thấy trong 14 mẫu thịt heo (17,5%) với hàm lượng từ 2-10.330 µg/kg, trong đó có 7 mẫu có dư lượng từ 103,3-10. NOR được tìm thấy trong 3 mẫu (3,75%) với hàm lượng từ 1,8-28,7 µg/kg, vượt mức giới hạn quy định tại Thông tư số 24/2013/TT-BYT của Bộ Y tế (MRL=100 µg/kg). Đặc biệt trong gần 1/3 số mẫu thịt gà có phát hiện enrofloxacin (32,86%) và 27,14% có florfenicol.4 Tình hình kháng kháng sinh của Salmonella spp. trên thế giới Trong lịch sử, kháng sinh đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh thương hàn là AMP, SXT và C.

Vào đầu những năm 1960, Salmonella đầu tiên kháng C đã được báo cáo. Kể từ đó, tần suất phân lập được Salmonella kháng một hoặc nhiều kháng sinh đã tăng lên ở nhiều nước trên thế giới. Các chủng Salmonella Typhi kháng ba loại kháng sinh này được coi là đa kháng và chúng được báo cáo vào cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1980. Khả năng kháng fluoroquinolone cũng đã được báo cáo thường xuyên vì đây là kháng sinh hay được sử dụng để điều trị nhiễm Salmonella đa kháng.

Ceftriaxone và azithromycin hiện nay cũng hay được sử dụng để điều trị sốt thương hàn khi không còn lựa chọn khác. Vì vậy, một số ít các trường hợp Salmonella Typhi kháng ceftriaxone hoặc azithromycin gần đây đã được báo cáo (Klemm và ctv, 2018). Trong hai thập kỷ qua, Salmonella Typhi H58 đa kháng đã lan rộng trên toàn cầu, phổ biến trên khắp các vùng Nam, Đông nam Châu Á và một phần của Châu Phi và châu Đại Dương. Đã có nhiều đợt bùng phát dịch sốt thương hàn ở địa phương do loài vi khuẩn này (Wong và ctv, 2015).

Đối với Salmonella không gây sốt thương hàn, số chủng đa kháng đã tăng lên ở nhiều quốc gia kể từ lần đầu tiên xuất hiện chủng Salmonella Typhimurium DT104 đa kháng vào năm 1990 (Helms và ctv, 2005). Dựa trên dữ liệu từ năm 2005 đến năm 2006 được công bố bởi hệ thống giám sát kháng khuẩn quốc gia Hoa Kỳ, 84 % lượng Salmonella không gây sốt thương hàn phân lập trên lâm sàng là đa kháng kháng sinh và 4,1% giảm tính nhạy với cephalosporin ở Mỹ. Dữ liệu của NARMS (1996-2007) cũng cho thấy sự xuất hiện của các chủng Salmonella không gây sốt thương hàn có khả năng kháng NA và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện tượng này đã gây ra khó khăn cho các cơ quan y tế công cộng về quản lý lâm sàng và phòng chống các bệnh nhiễm trùng (Crump và ctv, 2011).

Salmonella kháng kháng sinh chủ yếu là do lạm dụng kháng sinh trong điều trị bệnh ở người và chăn nuôi. Điều này gây ra nguy cơ lan truyền cao Salmonella đa kháng từ động vật sang người thông qua thức ăn hoặc nước uống, tiếp xúc trực tiếp hoặc tiêu thụ động vật bị nhiễm bệnh (Klemm và ctv, 2018). Monthon và ctv (2013) đã phát hiện Salmonella phân lập từ thịt heo và rau quả có khả năng kháng TE cao nhất (77% và 33%) trong khi Salmonella phân lập từ thịt gà có khả năng kháng STR cao nhất (92%). Tỷ lệ Salmonella đa kháng là 68% phân lập từ thịt heo (31 mẫu), 84% phân lập từ thịt gà (32 mẫu).

Trong khi đó chỉ có 7 mẫu (29%) được phân lập từ rau có biểu hiện kháng hai loại kháng sinh trở lên. Tại Nhật Bản, có 22 serovar được phát hiện trong đó phổ biến là Salmonella Infantis, Salmonella Hadar, Salmonella Typhimurium, Salmonella Manhattan, Salmonella Schwarzengrund, Salmonella Agona phân lập từ các mẫu thịt gà bán lẻ. Tỷ lệ kháng kháng sinh là 89,9%, trong đó 90,2% là đa kháng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu kháng kháng sinh của Salmonella spp. trong thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng kháng kháng sinh của các chủng Salmonella trong thực phẩm, một vấn đề ngày càng nghiêm trọng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các phương pháp phân lập và xác định chủng loại Salmonella mà còn phân tích mức độ kháng kháng sinh của chúng, từ đó đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát an toàn thực phẩm tại khu vực đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh.

Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức kháng kháng sinh ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và các biện pháp cần thiết để giảm thiểu rủi ro. Để mở rộng thêm kiến thức về kháng kháng sinh trong các chủng vi khuẩn khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Tình hình kháng kháng sinh của các chủng neisseria gonorrhoeae phân lập được tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2022, nơi cung cấp thông tin về kháng kháng sinh trong một loại vi khuẩn khác, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về vấn đề này.