Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp, lượng phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí carbonic (CO2), đã trở thành thách thức môi trường hàng đầu của nhân loại. Rừng đóng vai trò như một bể chứa carbon tự nhiên khổng lồ thông qua quá trình quang hợp, chuyển hóa sinh khối và tích lũy carbon hữu cơ. Tại Việt Nam, các chương trình trồng rừng như Dự án 327 và Chương trình 661 đã kiến tạo nên nhiều diện tích rừng trồng có giá trị kinh tế và phòng hộ cao. Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng sở hữu tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 6.775,85 ha, chiếm trên 83% diện tích tự nhiên của toàn xã. Trong đó, hệ sinh thái rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana) chiếm diện tích 441,33 ha, tương đương 6,07% tổng diện tích đất lâm nghiệp địa phương.

Vấn đề đặt ra là việc lượng hóa cụ thể trữ lượng carbon và khả năng hấp thụ CO2 của đối tượng rừng trồng này vẫn còn thiếu vắng các dữ liệu định lượng chuẩn xác phục vụ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Luận văn tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng lâm phần, xác định tổng lượng sinh khối khô, đo đếm trữ lượng carbon tích lũy và lượng hóa năng lực hấp thụ CO2 tương đương của rừng trồng Thông mã vĩ theo hai cấp tuổi đại diện: Cấp tuổi 1 (18 đến 20 năm tuổi, chiếm 91,55% diện tích với 404,04 ha) và Cấp tuổi 2 (39 đến 40 năm tuổi, chiếm 8,45% diện tích với 37,29 ha thuộc Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững, đồng thời mở ra triển vọng tiếp cận các cơ chế tài chính carbon như Cơ chế Phát triển Sạch (CDM) và REDD+ tại tỉnh Cao Bằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết chu chuyển vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới, kết hợp nguyên lý sinh lý học thực vật về quá trình cố định carbon qua quang hợp. Khung nghiên cứu vận dụng Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2006) và nguyên lý cân bằng sinh khối theo mô hình CO2Fix. Bốn bể chứa carbon chính của lâm phần được phân tích bao gồm: sinh khối tầng cây gỗ trên mặt đất, sinh khối rễ dưới mặt đất, sinh khối tầng cây bụi thảm tươi và tầng thảm mục hữu cơ.

Các khái niệm then chốt được lượng hóa gồm: Sinh khối tươi (FW), Sinh khối khô tuyệt đối (DW), Trữ lượng carbon (CS) và Lượng CO2 tương đương (CO2e). Theo hướng dẫn của IPCC, hệ số chuyển đổi từ sinh khối khô sang carbon hữu cơ được áp dụng là c = 0,5, và hệ số quy đổi từ carbon sang CO2 tương đương là 3,67 (tương ứng tỷ lệ khối lượng phân tử 44/12). Phương trình tương quan sinh khối cây cá lẻ của Ashfaq Ali (2019) xây dựng riêng cho loài Pinus massoniana dựa trên đường kính ngang ngực (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) được kế thừa để tính toán sinh khối cá thể cây rừng với độ tin cậy thống kê cao.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu thực địa áp dụng quy trình đánh giá nhanh trữ lượng carbon không phá hủy mẫu rừng theo Hairiah Kurniatun (2011). Cỡ mẫu được thiết lập gồm 12 ô tiêu chuẩn (OTC) phân bố ngẫu nhiên phân tầng theo cấp tuổi, bao gồm 6 OTC cho cấp tuổi 1 và 6 OTC cho cấp tuổi 2 nhằm bảo đảm tính đại diện về cấu trúc địa hình và độ tàn che. Đối với cấp tuổi 1 (mật độ dày), ô tiêu chuẩn được thiết kế dạng hình tròn diện tích 2.000 m2 với bán kính 25,24 m; đối với cấp tuổi 2 (lâm phần thành thục trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt), ô tiêu chuẩn hình tròn có diện tích 500 m2 với bán kính 12,62 m. Việc sử dụng ô tiêu chuẩn dạng tròn là giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu tối đa tác động phát luỗng dây tuyến đo trong khu bảo tồn thiên nhiên.

Tại mỗi OTC, toàn bộ cây gỗ có đường kính D1.3 từ 5 cm trở lên được đo đếm chính xác đường kính bằng thước vanh và chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao Blume-Leiss. Đồng thời, 5 ô dạng bản diện tích 1 m2 được bố trí trong mỗi OTC để thu thập mẫu thảm tươi và thảm mục. Các mẫu đại diện tươi (300g thảm tươi và 500g thảm mục) được chuyển về phòng thí nghiệm sấy khô ở nhiệt độ 105°C trong 6-8 giờ cho đến khi khối lượng không đổi. Dữ liệu sau đó được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh trắc rừng để xác định mật độ lâm phần, tiết diện ngang (G), sinh khối khô các thành phần và năng lực hấp thụ CO2 tích lũy theo thời gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực nghiệm tại 12 ô tiêu chuẩn trên địa bàn xã Thành Công đã mang lại những kết quả định lượng chi tiết về cấu trúc lâm phần, sinh khối và trữ lượng carbon của rừng trồng Thông mã vĩ:

Thứ nhất, về đặc trưng sinh trắc học lâm phần: Rừng cấp tuổi 1 có mật độ trung bình 993,33 cây/ha (trong đó cây Thông mã vĩ chiếm 916,67 cây/ha), đường kính trung bình D1.3 đạt 23,16 cm, chiều cao vút ngọn đạt 16,17 m, tổng tiết diện ngang đạt 45,78 m2/ha và độ tàn che đạt 0,87. Rừng cấp tuổi 2 có mật độ thưa hơn với 297,50 cây/ha (cây thông chiếm 243,33 cây/ha), nhưng đường kính trung bình đạt tới 43,49 cm (gấp 1,88 lần so với cấp tuổi 1), chiều cao đạt 20,57 m (gấp 1,27 lần) và tổng tiết diện ngang đạt 49,90 m2/ha.

Thứ hai, về động thái sinh khối khô: Tổng sinh khối khô của rừng cấp tuổi 1 đạt trung bình 305,97 tấn/ha (dao động từ 189,17 đến 384,33 tấn/ha). Trong đó, sinh khối tầng cây gỗ trên mặt đất chiếm 241,96 tấn/ha, sinh khối rễ dưới mặt đất đạt 52,28 tấn/ha, tầng thảm mục đạt 9,71 tấn/ha và tầng thảm tươi đạt 2,02 tấn/ha. Tại cấp tuổi 2, tổng sinh khối khô đạt 419,00 tấn/ha (tăng 36,94% so với cấp tuổi 1), trong đó cây gỗ trên mặt đất đạt 320,32 tấn/ha, rễ đạt 88,86 tấn/ha, thảm mục đạt 7,00 tấn/ha và thảm tươi đạt 2,82 tấn/ha.

Thứ ba, về trữ lượng carbon và khả năng hấp thụ CO2 tương đương: Rừng trồng cấp tuổi 1 tích lũy trung bình 152,98 tấn C/ha, tương đương năng lực cố định 561,44 tấn CO2e/ha. Tốc độ tích lũy carbon trung bình hàng năm của cấp tuổi 1 đạt từ 7,65 đến 8,50 tấn C/ha/năm (tương đương 28,07 đến 31,19 tấn CO2e/ha/năm). Đối với cấp tuổi 2, trữ lượng carbon tích lũy đạt 209,50 tấn C/ha, tương đương 768,87 tấn CO2e/ha, với lượng tích lũy hàng năm đạt 5,24 đến 5,37 tấn C/ha/năm.

Thứ tư, về cơ cấu phân bố bể carbon: Ở cả hai cấp tuổi, carbon tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ trên mặt đất (chiếm 79,08% ở cấp tuổi 1 và 76,45% ở cấp tuổi 2), tiếp đến là hệ thống rễ cây dưới mặt đất (chiếm 17,09% ở cấp tuổi 1 và 21,21% ở cấp tuổi 2). Tầng thảm mục và thảm tươi chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn, lần lượt là 3,17% và 0,66% ở cấp tuổi 1, và 1,67% cùng 0,67% ở cấp tuổi 2. Tổng lượng CO2 tích lũy trên toàn bộ 441,33 ha rừng thông tại xã Thành Công được ước tính đạt trên 255.515 tấn CO2e.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa tuổi rừng, mật độ và khả năng tích lũy sinh khối. Dù mật độ cây ở cấp tuổi 2 giảm mạnh do quá trình tự tỉa thưa tự nhiên (từ 993,33 cây/ha xuống 297,50 cây/ha), tổng sinh khối và trữ lượng carbon vẫn tăng 36,94% nhờ sự gia tăng vượt bậc về kích thước đường kính thân và chiều cao cây cá thể. Đáng chú ý, tốc độ tích lũy carbon hàng năm ở rừng trẻ (cấp tuổi 1) cao hơn rừng già (cấp tuổi 2) gần 1,6 lần, phản ánh quy luật sinh trưởng nhanh ở giai đoạn sung sức trước khi tiến vào pha thành thục.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, trữ lượng carbon của rừng Thông mã vĩ 40 năm tuổi tại xã Thành Công (209,50 tấn C/ha) cao hơn đáng kể so với kết quả của Ashfaq Ali (2019) tại tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc (đạt 142,2 tấn C/ha ở tuổi 48) và tương đương với nghiên cứu của Đặng Thịnh Triều (2010) tại Việt Nam (đạt 164,90 đến 313,43 tấn C/ha ở tuổi 30). Điều này khẳng định điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu mát mẻ và lượng mưa dồi dào tại khu vực núi cao Phia Oắc - Phia Đén đặc biệt thích hợp cho sự sinh trưởng và cố định carbon của loài Thông mã vĩ.

Để trực quan hóa các kết quả trên trong báo cáo quản lý, dữ liệu có thể được thể hiện thông qua biểu đồ cột so sánh sinh khối giữa 4 bể chứa carbon theo cấp tuổi, kết hợp biểu đồ tròn mô tả tỷ lệ đóng góp của từng bộ phận thực vật và đồ thị đường biểu diễn tốc độ tích lũy CO2 trung bình hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được, bốn giải pháp trọng tâm được đề xuất nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế và dịch vụ môi trường rừng:

Thứ nhất, thương mại hóa dịch vụ hấp thụ carbon rừng: Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình cần chủ trì, phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ kỹ thuật định lượng carbon cho toàn bộ 441,33 ha rừng thông tại xã Thành Công. Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2026-2028 là hoàn thành chứng nhận tín chỉ carbon rừng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo nguồn thu tối thiểu từ 15 đến 20 USD/tấn CO2 để tái đầu tư cho cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.

Thứ hai, thực hiện các biện pháp tỉa thưa kỹ thuật nuôi dưỡng rừng: Ban Quản lý Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén và các chủ rừng sản xuất cần triển khai tỉa thưa hợp lý đối với lâm phần cấp tuổi 1 (hiện có mật độ cao trên 900 cây/ha), đưa mật độ về mức tối ưu 500-600 cây/ha trong giai đoạn 2026-2027. Giải pháp này giúp giảm cạnh tranh dinh dưỡng, thúc đẩy tăng trưởng đường kính D1.3 thêm 15-20% và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tích lũy carbon lâu dài.

Thứ ba, tăng cường quản lý vật liệu cháy và phòng cháy chữa cháy rừng: Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình cùng Ủy ban nhân dân xã Thành Công cần tổ chức thu dọn, xử lý thực bì và kiểm soát khối lượng thảm mục khô dưới tán trong mùa hanh khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), khống chế sinh khối thảm mục ở mức an toàn dưới 5-7 tấn/ha, giúp giảm thiểu 90% nguy cơ bùng phát cháy rừng.

Thứ tư, mở rộng diện tích trồng rừng hỗn giao bản địa: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nguyên Bình xây dựng kế hoạch mở rộng thêm 200 ha diện tích trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao (như Kháo, Dổi, Sến) dưới tán rừng thông thưa đến năm 2030, vừa nâng cao tính đa dạng sinh học vừa gia tăng tổng trữ lượng carbon của hệ sinh thái lên trên 250 tấn C/ha.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, cán bộ quản lý lâm nghiệp và cơ quan kiểm lâm: Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác về sinh khối (305,97 - 419,00 tấn/ha) và trữ lượng carbon rừng Thông mã vĩ, hỗ trợ trực tiếp cho công tác quy hoạch lâm nghiệp, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và xây dựng định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp địa phương.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Khoa học môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn hình tròn không phá hủy mẫu, quy trình sấy mẫu thực nghiệm và việc ứng dụng các phương trình tương quan allometric theo chuẩn quốc tế IPCC.

Thứ ba, Ban quản lý rừng đặc dụng, vườn quốc gia và các chủ rừng: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập các biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng rừng, quản lý mật độ cây gỗ và duy trì tầng thảm tươi thảm mục nhằm tối đa hóa khả năng hấp thụ khí nhà kính và phòng ngừa rủi ro cháy rừng.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, đơn vị tư vấn và nhà đầu tư dự án tín chỉ carbon: Số liệu về tổng tiềm năng hấp thụ hơn 255.515 tấn CO2e là cơ sở đầu vào tin cậy để lập báo cáo khả thi (Feasibility Study) và thiết kế tài liệu dự án (PDD) trong khuôn khổ các chương trình tín chỉ carbon tự nguyện.

Câu hỏi thường gặp

Khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng Thông mã vĩ tại xã Thành Công đạt mức bao nhiêu? Lâm phần Thông mã vĩ cấp tuổi 1 (18-20 năm) đạt trữ lượng hấp thụ 561,44 tấn CO2e/ha, trong khi cấp tuổi 2 (39-40 năm) đạt tới 768,87 tấn CO2e/ha. Bình quân mỗi năm, một hecta rừng thông trẻ cố định từ 28,07 đến 31,19 tấn CO2e, thể hiện tiềm năng giảm thiểu khí nhà kính rất lớn.

Thành phần nào trong lâm phần chiếm tỷ lệ tích lũy carbon cao nhất? Tầng cây gỗ trên mặt đất chiếm tỷ trọng lớn nhất với 79,08% ở cấp tuổi 1 và 76,45% ở cấp tuổi 2. Hệ rễ dưới mặt đất đóng góp từ 17,09% đến 21,21%, trong khi tầng thảm mục và cây bụi thảm tươi chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 5% tổng trữ lượng carbon của toàn lâm phần.

Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn thiết lập ô tiêu chuẩn dạng hình tròn? Ô tiêu chuẩn hình tròn (bán kính 25,24 m cho diện tích 2.000 m2 và 12,62 m cho diện tích 500 m2) được áp dụng nhằm hạn chế tối đa việc phát tuyến kéo dây làm tổn hại cấu trúc thảm thực bì nguyên sinh trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén.

Tuổi của rừng ảnh hưởng thế nào đến tốc độ hấp thụ carbon hàng năm? Rừng cấp tuổi 1 có tốc độ tích lũy carbon hàng năm đạt 7,65 - 8,50 tấn C/ha/năm, cao hơn mức 5,24 - 5,37 tấn C/ha/năm ở cấp tuổi 2. Cây rừng ở độ tuổi 18-20 năm đang trong giai đoạn sinh trưởng mạnh mẽ nên có cường độ quang hợp và tốc độ cố định carbon nhanh hơn rừng già.

Dữ liệu của luận văn có thể áp dụng cho các cơ chế thương mại carbon quốc tế không? Hoàn toàn có thể áp dụng vì toàn bộ quy trình đo đếm, tính toán sinh khối và chuyển đổi carbon đều tuân thủ nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn của IPCC (2006) và phương pháp đánh giá nhanh Hairiah (2011), cung cấp dữ liệu kiểm kê khí nhà kính có độ tin cậy cao.

Kết luận

Nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon của rừng trồng Thông mã vĩ tại xã Thành Công đã mang lại những đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật sau:

  • Xác định tổng sinh khối khô của lâm phần đạt 305,97 tấn/ha ở cấp tuổi 1 và tăng lên 419,00 tấn/ha ở cấp tuổi 2.
  • Lượng hóa trữ lượng carbon tích lũy đạt 152,98 tấn C/ha (cấp tuổi 1) và 209,50 tấn C/ha (cấp tuổi 2), với trên 76% carbon tập trung ở thân cây gỗ trên mặt đất.
  • Đánh giá tổng trữ lượng hấp thụ khí nhà kính của 441,33 ha rừng thông tại địa phương đạt trên 255.515 tấn CO2 tương đương.
  • Minh chứng tính khoa học và hiệu quả của phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn hình tròn kết hợp mô hình allometric trong việc kiểm kê carbon rừng đặc dụng.
  • Cung cấp luận cứ vững chắc để địa phương xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia thị trường chuyển nhượng tín chỉ carbon.

Về lộ trình triển khai tiếp theo trong giai đoạn 2026-2028, các cơ quan quản lý cần tiến hành chuẩn hóa bản đồ phân vùng trữ lượng carbon và mở rộng khảo sát trên các loài cây trồng lâm nghiệp khác. Các nhà quản lý, nghiên cứu và chủ rừng hãy tích cực ứng dụng ngay cơ sở dữ liệu định lượng này vào công tác quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững tại địa phương.