Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu sử dụng phụ gia có nguồn gốc tự nhiên thay thế các hợp chất tổng hợp đang trở thành xu hướng tất yếu trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm toàn cầu. Trong quá trình chế biến cà chua, lượng bã thải chiếm tỷ lệ lớn với độ ẩm ban đầu khoảng 85%, trong đó hợp chất lycopene chiếm từ 80% đến 90% tổng lượng sắc tố carotenoid. Tuy nhiên, nguồn phụ phẩm giàu hoạt tính sinh học này thường bị loại bỏ, gây lãng phí tài nguyên và áp lực lớn lên môi trường xử lý chất thải. Đồng thời, các sản phẩm thực phẩm thiết yếu như thịt lợn tươi sơ chế và dầu thực vật thô luôn đối mặt với nguy cơ suy giảm chất lượng nghiêm trọng do quá trình oxy hóa lipid và sự xâm nhiễm của vi sinh vật hiếu khí trong quá trình lưu thông phân phối.

Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Luân, chuyên ngành Công nghệ thực phẩm tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được thực hiện nhằm khảo nghiệm tiềm năng của chế phẩm lycopene trích ly từ bã cà chua trong việc kiểm soát tốc độ ôi hóa, ức chế vi sinh vật gây hư hỏng và kéo dài thời hạn bảo quản cho thịt lợn nạc vai cùng dầu lạc thô. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ ngày 15/08/2017 đến ngày 12/10/2018 tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ chế biến, Khoa Công nghệ thực phẩm. Kết quả thực nghiệm mang lại giá trị khoa học và thực tiễn cao khi thu nhận được chế phẩm lycopene đạt độ tinh khiết 88% và chứng minh công thức bổ sung 0,1 g lycopene trên 100 g thịt giúp duy trì hàm lượng amoniac dưới ngưỡng tiêu chuẩn 35 mg trên 100 g sau 12 ngày bảo quản ở nhiệt độ 5±1 độ C, đồng thời nồng độ 1 g lycopene trên 1 kg dầu lạc mang lại hiệu quả kháng oxy hóa tương đương chất chống oxy hóa tổng hợp BHT 0,05 g trên 1 kg.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết về cấu trúc và cơ chế kháng oxy hóa của các hợp chất carotenoid tự nhiên, kết hợp cùng lý thuyết về động học biến đổi hóa sinh của thịt tươi sau giết mổ và dầu béo thực vật. Lycopene là một hydrocarbon không no mạch hở với công thức phân tử C40H56, khối lượng phân tử 536,89 g/mol, nhiệt độ nóng chảy dao động từ 173 đến 175 độ C. Cấu trúc phân tử đặc trưng bởi 13 liên kết đôi, trong đó có 11 liên kết đôi liên hợp, mang lại cho lycopene khả năng dập tắt oxy đơn bội mạnh gấp 2 lần so với beta-carotene, gấp 10 lần so với alpha-tocopherol và gấp 100 lần so với vitamin E.

Quá trình phân giải protein và lipid trong thịt sau giết mổ diễn ra qua các giai đoạn tê cóng, tự phân và thối rữa dưới tác động của enzyme nội bào cùng hệ vi sinh vật hiếu khí. Sự phân giải này tạo ra các sản phẩm cuối cùng như amoniac, hydro sunfua và các gốc tự do thúc đẩy quá trình ôi hóa lipid tạo thành hydroperoxide. Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 khái niệm trọng tâm: chỉ số peroxide biểu thị mức độ tạo thành sản phẩm oxy hóa sơ cấp, chỉ số Totox phản ánh tổng mức độ oxy hóa chất béo, khả năng dập tắt gốc tự do DPPH và mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số xác định mức độ tươi mới của thực phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn nguyên liệu bã cà chua được thu gom tại tỉnh Bắc Ninh, sấy đối lưu ở nhiệt độ 70 độ C đến khi độ ẩm đạt 8,6% và trích ly bằng dung môi ethyl acetate theo tỷ lệ 40:1 ở 55 độ C trong 120 phút qua 3 lần chiết. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 750 g thịt nạc vai tươi cho mỗi công thức (thái miếng kích thước 4x2x0,5 cm, chia thành các phần 150 g đóng gói trong túi LDPE kín, bảo quản ở 5±1 độ C) và 1000 ml dầu lạc thô cho mỗi công thức (đựng trong chai thủy tinh tối màu ở nhiệt độ phòng). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng để đảm bảo tính đại diện và đồng nhất sinh hóa của nguyên liệu thịt ngay sau giết mổ.

Các phương pháp phân tích chỉ tiêu được lựa chọn nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ lặp lại:

  • Xác định hàm lượng amoniac theo TCVN 3706:1990 bằng phương pháp cất đạm Kjeldahl và chuẩn độ acid dư.
  • Xác định chỉ số peroxide trong thịt theo phương pháp so màu quang phổ phức hợp sắt thiocyanate tại bước sóng 480 nm.
  • Xác định độ acid của dầu lạc theo TCVN 6127:2010 và chỉ số peroxide của dầu theo tiêu chuẩn AOCS Cd 8-53 (2003).
  • Đánh giá khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH tại bước sóng 515 nm và kiểm tra mật độ vi sinh vật hiếu khí theo TCVN 7928:2008 trên môi trường thạch PCA ủ ở 30 độ C trong 48 đến 72 giờ. Toàn bộ thí nghiệm được lặp lại 3 lần và xử lý phương sai ANOVA trên phần mềm Minitab 16 ở mức ý nghĩa thống kê alpha = 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy trình trích ly tối ưu thu nhận được chế phẩm lycopene từ bã cà chua có độ ẩm 8,61%, hàm lượng lycopene đạt 0,88 mg trên 1 mg chất khô (tương đương độ tinh khiết 88%) và hoạt tính kháng oxy hóa đạt 0,72 micromol Trolox tương đương trên 1 mg chất khô.

Thứ hai, đối với thịt lợn nạc vai bảo quản lạnh ở 5±1 độ C, hàm lượng amoniac tăng dần theo thời gian nhưng tốc độ chậm hơn rõ rệt ở các mẫu bổ sung lycopene. Đến ngày thứ 12, hai mẫu đối chứng không xử lý và mẫu chỉ bổ sung dầu lạc đã vượt ngưỡng cho phép 35 mg/100 g thịt theo TCVN 7047:2009 (đạt mức 37,72 mg/100 g thịt), trong khi công thức bổ sung 0,1 g lycopene/100 g thịt (CT3) đạt 34,71 mg/100 g và công thức 0,3 g lycopene/100 g thịt (CT4) chỉ đạt 32,15 mg/100 g, giúp thịt vẫn nằm trong giới hạn an toàn thực phẩm.

Thứ ba, chỉ số peroxide và mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số trong các mẫu thịt có bổ sung lycopene thấp hơn từ 15% đến 28% so với mẫu đối chứng trong suốt 12 ngày theo dõi, chứng minh khả năng ức chế hiện tượng ôi khét lipid và hạn chế sự tăng sinh của vi khuẩn gây hư hỏng bề mặt.

Thứ tư, đối với dầu lạc thô bảo quản ở nhiệt độ thường, công thức bổ sung 1 g lycopene trên 1 kg dầu (CT3) và 2 g lycopene trên 1 kg dầu (CT4) làm giảm đáng kể tốc độ gia tăng độ acid và chỉ số peroxide. Khả năng kháng oxy hóa qua chỉ số dập tắt gốc tự do DPPH của công thức 1 g lycopene/kg dầu đạt mức tương đương với công thức sử dụng chất chống oxy hóa hóa học BHT nồng độ 0,05 g/kg.

Thảo luận kết quả

Cơ chế tác động tích cực của lycopene bắt nguồn từ hệ thống liên kết đôi liên hợp dồi dào, cho phép phân tử này dễ dàng phản ứng với các gốc tự do hydroperoxyl và dập tắt oxy đơn bội sinh ra trong chuỗi phản ứng peroxy hóa lipid. Khi quá trình oxy hóa chất béo bị kìm hãm, màng tế bào mô cơ thịt được bảo vệ tốt hơn, làm chậm sự thoát dịch và hạn chế sự phân hủy protein thành amoniac dưới tác động của enzyme vi sinh vật. Khi so sánh với các nghiên cứu sử dụng chiết xuất trà xanh hoặc tinh dầu quế, lycopene từ bã cà chua thể hiện ưu thế vượt trội về việc không tạo mùi vị lạ nồng gắt, đồng thời bổ sung màu sắc tự nhiên và hoạt tính chống ung thư cho sản phẩm.

Các dữ liệu thực nghiệm về động học biến đổi hóa sinh có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường biểu diễn sự tăng hàm lượng amoniac và chỉ số peroxide theo chu kỳ lấy mẫu 3 ngày một lần, kết hợp cùng bảng so sánh đối sánh phương sai giữa các mức nồng độ lycopene khác nhau. Điều này làm nổi bật tính khả thi của việc ứng dụng nồng độ 0,1 g lycopene/100 g thịt và 1 g lycopene/kg dầu như một giải pháp bảo quản sinh học đạt hiệu năng cao và an toàn cho người tiêu dùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình công nghệ trích ly và tinh chế lycopene từ bã cà chua ở quy mô công nghiệp. Các doanh nghiệp chế biến rau quả cần phối hợp với các viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ trích ly có hỗ trợ sóng siêu âm nhằm duy trì hiệu suất thu hồi trên 85% và độ tinh khiết tối thiểu 88%, hoàn thiện quy trình trong thời gian từ 6 đến 12 tháng tới.

Thứ hai, triển khai ứng dụng chế phẩm lycopene nồng độ 0,1 g trên 100 g sản phẩm vào quy trình bảo quản thịt mát tại các cơ sở giết mổ hiện đại. Doanh nghiệp ngành thịt cần kết hợp xử lý dịch dầu lycopene với công nghệ bao gói màng LDPE hoặc bao gói khí quyển biến đổi, hướng tới mục tiêu kéo dài thời gian lưu thông thương phẩm lên 12 đến 15 ngày ở nhiệt độ 5±1 độ C trong giai đoạn 2024-2026.

Thứ ba, thay thế dần các phụ gia chống oxy hóa tổng hợp như BHT và BHA bằng chế phẩm lycopene tự nhiên với hàm lượng 1 g trên 1 kg trong sản xuất dầu thực vật thô. Các nhà máy tinh luyện dầu thực vật cần tiến hành thử nghiệm cảm quan và đánh giá chỉ số Totox định kỳ 14 ngày một lần nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tính năng bảo vệ sức khỏe cho sản phẩm dầu ăn dinh dưỡng.

Thứ tư, xây dựng chuỗi liên kết thu gom và sơ chế phụ phẩm bã cà chua giữa các vùng chuyên canh nông nghiệp tại miền Bắc và các nhà máy chế biến sinh học. Mục tiêu đặt ra là thu gom khoảng 70% lượng bã thải cà chua tươi, sấy hạ độ ẩm xuống dưới 9% ngay sau chế biến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra nguồn nguyên liệu thứ cấp có giá trị kinh tế cao trong vòng 2 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các doanh nghiệp và cơ sở chế biến thực phẩm tươi sống, thịt mát và dầu thực vật. Đơn vị sản xuất có thể khai thác trực tiếp công thức phối trộn 0,1% lycopene cho thịt lợn và 0,1% lycopene cho dầu lạc để tối ưu hóa thời hạn sử dụng sản phẩm mà không cần phụ thuộc vào hóa chất bảo quản tổng hợp.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc ngành Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sinh học và Hóa học các hợp chất thiên nhiên. Luận văn cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu chi tiết về quy trình trích ly carotenoid, các phương pháp phân tích hóa lý tiêu chuẩn như cất đạm Kjeldahl, đo quang phổ UV-Vis và chuẩn độ iod.

Thứ ba, các nhà máy chế biến nước ép, sốt cà chua và doanh nghiệp kinh tế tuần hoàn nông nghiệp. Nhóm đối tượng này có thể ứng dụng các thông số sấy đối lưu 70 độ C và trích ly ethyl acetate để biến nguồn bã thải chiếm 15% đến 20% khối lượng nguyên liệu thành sản phẩm thương mại có giá trị cao.

Thứ tư, các chuyên gia dinh dưỡng và cơ quan quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm. Tài liệu mang lại bằng chứng khoa học vững chắc về ngưỡng an toàn amoniac 35 mg/100 g thịt và hiệu quả sinh học của lycopene trong việc ngăn ngừa oxy hóa cholesterol xấu, hỗ trợ xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật cho thực phẩm chức năng.

Câu hỏi thường gặp

Chế phẩm lycopene từ bã cà chua có an toàn hơn các chất bảo quản tổng hợp như BHT hay BHA không? Chế phẩm lycopene là hợp chất sinh học tự nhiên không gây độc tính tế bào khi sử dụng trong thực phẩm. Ngược lại, các hóa chất tổng hợp như BHT và BHA nếu lạm dụng vượt ngưỡng cho phép có nguy cơ gây tích tụ độc tố và ảnh hưởng xấu đến gan. Thực nghiệm cho thấy lycopene mang lại hiệu quả bảo quản tương đương BHT nồng độ 0,05 g/kg nhưng an toàn tuyệt đối cho người tiêu dùng.

Nồng độ lycopene bao nhiêu là tối ưu nhất để bảo quản thịt lợn tươi sơ chế? Nồng độ tối ưu được xác định qua nghiên cứu là 0,1 g lycopene hòa tan trong 5 ml dầu lạc trên 100 g thịt nạc vai. Tại tỷ lệ này, thịt duy trì hàm lượng amoniac ở mức 34,71 mg/100 g sau 12 ngày bảo quản lạnh ở 5±1 độ C, đạt chuẩn chất lượng thực phẩm tươi theo TCVN 7047:2009 mà vẫn giữ nguyên cấu trúc mềm mại tự nhiên.

Lycopene bảo quản dầu lạc theo cơ chế hóa học nào? Lycopene bảo vệ chất béo nhờ 11 liên kết đôi liên hợp có khả năng hấp thụ năng lượng từ oxy đơn bội và trung hòa các gốc tự do peroxy trước khi chúng tấn công vào các acid béo chưa no. Điều này làm chậm quá trình hình thành hydroperoxide, giúp chỉ số peroxide và độ acid của dầu lạc duy trì ở mức thấp trong suốt thời gian bảo quản ở nhiệt độ phòng.

Bã cà chua cần được xử lý sơ bộ như thế nào trước khi đem trích ly lycopene? Bã cà chua tươi có độ ẩm cao khoảng 85% cần được loại bỏ hạt, xay mịn để tách dịch quả dư thừa, sau đó tiến hành sấy đối lưu ở nhiệt độ 70 độ C cho đến khi độ ẩm giảm xuống còn 8,61%. Việc hạ ẩm này giúp phá vỡ màng tế bào thực vật, tạo điều kiện cho dung môi ethyl acetate thẩm thấu và trích ly tối đa lượng sắc tố lycopene.

Các chỉ tiêu nào được dùng để đánh giá mức độ hư hỏng của thịt trong nghiên cứu? Nghiên cứu sử dụng 3 chỉ tiêu cốt lõi gồm: hàm lượng khí amoniac giải phóng từ quá trình tự phân protein (ngưỡng tối đa 35 mg/100 g), chỉ số peroxide đo lường lượng sản phẩm oxy hóa lipid bậc một qua phản ứng tạo màu phức hợp sắt thiocyanate, và tổng số vi sinh vật hiếu khí phát triển trên đĩa thạch dinh dưỡng ở 30 độ C.

Kết luận

  • Tận dụng thành công nguồn phụ phẩm bã cà chua có độ ẩm ban đầu 85% để trích ly chế phẩm lycopene đạt độ tinh khiết 88% và hoạt tính kháng oxy hóa 0,72 micromol Trolox tương đương trên 1 mg chất khô.
  • Xác lập nồng độ ứng dụng tối ưu 0,1 g lycopene trên 100 g thịt nạc vai, giúp kìm hãm sự tăng sinh vi sinh vật và giữ hàm lượng amoniac ở mức 34,71 mg/100 g sau 12 ngày bảo quản ở 5±1 độ C.
  • Chứng minh hiệu quả kháng oxy hóa lipid của lycopene nồng độ 1 g trên 1 kg dầu lạc thô tương đương với phụ gia hóa học BHT 0,05 g trên 1 kg trong điều kiện bảo quản nhiệt độ phòng.
  • Đóng góp giải pháp khoa học mang tính đột phá trong việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn nông nghiệp, biến chất thải chế biến rau quả thành phụ gia sinh học giá trị cao.
  • Khuyến nghị các viện nghiên cứu và doanh nghiệp chế biến thực phẩm nhanh chóng thử nghiệm mở rộng quy mô pilot trong giai đoạn 2024-2025 nhằm hoàn thiện dây chuyền sản xuất thực phẩm sạch, an toàn và bền vững.