Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ đạo, cung cấp từ 70% đến 80% tổng sản lượng thịt tiêu thụ nội địa cũng như phục vụ định hướng xuất khẩu. Cùng với sự phát triển chung của cả nước, ngành chăn nuôi lợn tại tỉnh Thái Nguyên đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, phân tán sang mô hình gia trại và trang trại tập trung ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Trong quy trình chăn nuôi lợn công nghiệp, giai đoạn lợn con theo mẹ từ khi sinh ra đến khi cai sữa là mắt xích quan trọng nhất, mang tính quyết định đến toàn bộ năng suất, chất lượng con giống và hiệu quả kinh tế của chu kỳ chăn nuôi. Tuy nhiên, do đặc điểm giải phẫu và chức năng sinh lý của lợn con giai đoạn này chưa hoàn thiện, sức đề kháng tự nhiên còn yếu, lợn con rất mẫn cảm với những biến đổi của thời tiết khí hậu, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi và chế độ dinh dưỡng. Hiện tượng lợn con mắc hội chứng tiêu chảy xảy ra phổ biến ở hầu hết các cơ sở chăn nuôi, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao, còi cọc, giảm tốc độ tăng khối lượng và gây hao hụt đầu con lớn. Để nâng cao năng suất chăn nuôi và kiểm soát dịch bệnh đường tiêu hóa trên đàn lợn con, tác giả Vũ Thị Huệ đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và diễn biến bệnh tiêu chảy tại một cơ sở chăn nuôi quy mô bán công nghiệp ở địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ;
  2. Đánh giá khả năng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con theo mẹ;
  3. Đánh giá tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại, xác định một số yếu tố ảnh hưởng và thử nghiệm biện pháp điều trị.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đàn lợn con theo mẹ từ giai đoạn sơ sinh đến khi cai sữa (4 tuần tuổi), sinh ra từ hai tổ hợp nái lai có tỷ lệ máu ngoại khác nhau phối với đực ngoại Pietrain. Nghiên cứu được triển khai tại Trại chăn nuôi Đoàn Hương, nằm trên địa bàn thôn Vân Thượng, xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian thực hiện đề tài kéo dài trong 6 tháng, từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên lý thuyết về ưu thế lai trong chăn nuôi do G. Shull khởi xướng từ năm 1914, kết hợp với các mô hình nhân giống lợn thương phẩm hiện đại, tiêu biểu là hệ thống nhân giống hình tháp của tổ chức PIC (với các dòng thuần Landrace L06, Yorkshire L11, Pietrain L64 và các dòng tổng hợp L19, L95) nhằm tạo ra con lai thương phẩm có khả năng tăng khối lượng nhanh và tỷ lệ nạc cao. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn của gia súc (giai đoạn phôi thai, tiền thai, bào thai và giai đoạn ngoài thai); đường cong sinh trưởng dạng chữ S (Sigmoid); các chỉ tiêu sinh lý tiêu hóa của lợn non như sự biến thiên dung tích dạ dày, ruột non, ruột già theo ngày tuổi, đặc điểm thiếu hụt axit clohydric (HCl) tự do trong 2 tuần đầu sau sinh và cơ chế miễn dịch thụ động nhận kháng thể từ sữa non của lợn mẹ. Cơ sở bệnh lý học đường tiêu hóa tập trung vào hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia) ở lợn do loạn khuẩn, tác động cộng hưởng của vi khuẩn (Escherichia coli, Salmonella, Clostridium perfringens), virus (Rotavirus, TGE) và các yếu tố gây stress môi trường, thời tiết, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp điều tra thống kê mô tả với phương pháp bố trí khảo nghiệm theo dõi trực tiếp trên đàn lợn. Phương pháp khảo sát sinh trưởng được thực hiện trên 2 lô lợn con (dung lượng mẫu mỗi lô n = 21 con):

  • Lô 1: Lợn con sinh ra từ mẹ là nái lai 1/4 máu ngoại (Landrace) phối với lợn đực giống ngoại Pietrain;
  • Lô 2: Lợn con sinh ra từ mẹ là nái lai 3/4 máu ngoại (Landrace) phối với lợn đực giống ngoại Pietrain.

Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi bằng cách cân khối lượng trực tiếp từng cá thể bằng cân kỹ thuật vào lúc sơ sinh và định kỳ vào 7 - 9 giờ sáng các thời điểm 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi, 3 tuần tuổi và lúc cai sữa (4 tuần tuổi), cố định người cân và dụng cụ cân. Trên cơ sở đó, tác giả tính toán sinh trưởng tích lũy (kg), sinh trưởng tuyệt đối (A, tính bằng g/con/ngày) và sinh trưởng tương đối (R, tính bằng %). Chỉ tiêu sử dụng thức ăn được theo dõi thông qua việc cân lượng thức ăn cung cấp hàng ngày trừ đi lượng thức ăn thừa trong máng để xác định lượng thức ăn thu nhận/con/ngày, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng (FCR) và chi phí thức ăn sản xuất 1 kg lợn con giống. Tình hình dịch tễ hội chứng tiêu chảy được theo dõi qua quan sát lâm sàng hàng ngày, ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, phân loại triệu chứng lâm sàng và thử nghiệm các phác đồ điều trị bằng kháng sinh kết hợp hộ lý và thuốc trợ lực.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại chuồng nuôi của Trại chăn nuôi Đoàn Hương thông qua sổ theo dõi phối giống, sổ trực đẻ, nhật ký cấp phát thức ăn và nhật ký điều trị bệnh thú y; kết hợp với số liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp - kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân xã Hồng Tiến và số liệu lưu trữ nội bộ của trang trại giai đoạn 2012 - 2014. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (1997), xác định giá trị trung bình, sai số trung bình ($m_X$), độ lệch chuẩn ($S_X$) và hệ số biến dị ($C_v%$).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của khóa luận được trình bày gồm hai phần chính:

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh toàn diện quá trình thực tập nghề nghiệp của sinh viên tại cơ sở sản xuất, gồm kết quả điều tra cơ bản và các hoạt động kỹ thuật trực tiếp:

  • Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất: Trại chăn nuôi Đoàn Hương được quy hoạch trên tổng diện tích 15.000 m² tại vùng gò đồi thôn Vân Thượng, xã Hồng Tiến. Cơ cấu sử dụng đất gồm 12.500 m² đất trồng trọt (chiếm 83,33%), 1.500 m² đất xây dựng trang trại (chiếm 10%) và 1.000 m² đất nuôi trồng thủy sản (chiếm 6,67%). Hệ thống cấp nước của trại sử dụng 4 giếng khoan với công suất ước tính 60 - 80 m³/ngày đêm, trang bị 4 bể chứa nước dung tích 20 m³/bể và 4 máy bơm. Hệ thống chuồng trại khép kín gồm: khu chuồng nái chửa có 80 ô sàn bê tông (kích thước 2,2 m x 0,65 m/ô); khu chuồng đẻ nuôi con gồm 2 dãy với 16 ô sàn sắt hiện đại (kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô); khu lợn sau cai sữa gồm 15 ô trang bị máng ăn uống tự động; và khu chuồng nuôi lợn thịt thương phẩm diện tích 600 m² gồm 20 ô nuôi (mật độ 20 - 25 con/ô). Cơ cấu tổ chức gồm 4 nhân sự: 1 chủ trại kiêm chỉ đạo kỹ thuật, 1 cán bộ kỹ thuật và 2 công nhân trực tiếp sản xuất.
  • Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý giống: Trang trại áp dụng quy trình dinh dưỡng công nghiệp bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh do Công ty Cổ phần JAPFA COMFEED Việt Nam cung ứng. Đối với nái chửa kỳ 1 (phối giống đến 84 ngày), khẩu phần duy trì dùng cám LN 07 (15% protein thô, 3.000 kcal năng lượng trao đổi/kg); nái chửa kỳ 2 (ngày thứ 85 đến đẻ) tăng định lượng lên 2,2 - 2,5 kg/con/ngày. Nái nuôi con dùng cám LN 07 với chế độ tăng dần từ 0,5 - 1 kg sau đẻ lên 3,5 - 4 kg/ngày từ ngày thứ 5. Lợn con tập ăn sớm từ 7 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp LT01.
  • Công tác thú y và phòng trị bệnh: Thực hiện lịch tiêm phòng định kỳ nghiêm ngặt bằng vaccine dịch tả, suyễn lợn, lở mồm long móng, giả dại, tai xanh trên đàn lợn con, nái sinh sản và lợn đực. Tác giả đã tham gia trực tiếp chẩn đoán và điều trị nhiều ca bệnh phát sinh trong trại. Kết quả công tác phục vụ sản xuất thực tế được thống kê đầy đủ:
Nhóm công tác Nội dung thực hiện Số lượng theo dõi (con) Kết quả (con) Tỷ lệ (%)
Phòng bệnh bằng vaccine Vaccine dịch tả 820 820 (an toàn) 100,00
Vaccine suyễn lợn 820 820 (an toàn) 100,00
Vaccine lở mồm long móng (LMLM) 80 80 (an toàn) 100,00
Vaccine giả dại 80 80 (an toàn) 100,00
Vaccine tai xanh (PRRS) 80 80 (an toàn) 100,00
Điều trị bệnh Bệnh phân trắng lợn con 410 390 (khỏi) 95,12
Hội chứng tiêu chảy 310 298 (khỏi) 96,12
Viêm tử cung lợn nái 10 9 (khỏi) 90,00
Bệnh ghẻ lợn 2 2 (khỏi) 100,00
Bệnh viêm khớp 5 4 (khỏi) 80,00
Thủ thuật và kỹ thuật khác Trực đỡ đẻ lợn nái 75 75 (an toàn) 100,00
Tiêm chế phẩm sắt (Fe) 820 820 (an toàn) 100,00
Thiến hoạn lợn đực con 415 415 (an toàn) 100,00
Phối giống trực tiếp 65 65 (an toàn) 100,00
Phẫu thuật thoát vị bẹn (hecni) 21 20 (khỏi) 95,23

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm chuyên sâu về khả năng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và diễn biến bệnh lý tiêu chảy:

  • Tình hình phát triển quy mô đàn lợn của trại (2012 - 2014): Đàn lợn nái sinh sản duy trì tốc độ phát triển ổn định từ 70 con (năm 2012) lên 75 con (năm 2013) và đạt 80 con (tháng 5/2014), tăng 14,28% sau 3 năm. Đàn lợn con cai sữa tăng 11,89% và đàn lợn thịt thương phẩm tăng 11,42%.
  • Năng suất sinh trưởng tích lũy của lợn con theo mẹ: Sự khác biệt về tỷ lệ máu ngoại của đàn nái mẹ ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn tuổi. Lợn con ở Lô 2 (nái mẹ mang 3/4 máu Landrace) luôn thể hiện ưu thế vượt trội so với Lô 1 (nái mẹ mang 1/4 máu Landrace).
Thời điểm theo dõi Lô 1 (n = 21 con) Lô 2 (n = 21 con) So sánh Lô 2 - Lô 1 (kg) Tỷ lệ Lô 2 / Lô 1 (%)
Khối lượng sơ sinh 0,95 ± 0,01 kg ($C_v$ = 4,70%) 1,46 ± 0,02 kg ($C_v$ = 4,59%) +0,51 153,68
Lúc 1 tuần tuổi 1,77 ± 0,02 kg ($C_v$ = 4,80%) 2,83 ± 0,03 kg ($C_v$ = 4,74%) +1,06 159,88
Lúc 2 tuần tuổi 2,71 ± 0,03 kg ($C_v$ = 4,62%) 4,25 ± 0,05 kg ($C_v$ = 5,05%) +1,54 156,82
Lúc 3 tuần tuổi 3,87 ± 0,04 kg ($C_v$ = 4,62%) 5,97 ± 0,06 kg ($C_v$ = 4,49%) +2,10 154,26
Lúc cai sữa (4 tuần tuổi) 4,89 ± 0,05 kg ($C_v$ = 4,57%) 7,61 ± 0,08 kg ($C_v$ = 4,70%) +2,72 155,62
  • Năng suất sinh trưởng tuyệt đối (tăng khối lượng bình quân ngày): Tốc độ tăng khối lượng hàng ngày của lợn con tăng dần từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 3, sau đó có biểu hiện chững lại ở tuần thứ 4 do nguồn sữa mẹ suy giảm và lợn con bước vào giai đoạn khủng hoảng cai sữa.
Giai đoạn nuôi Lô 1 (g/con/ngày) Lô 2 (g/con/ngày) Chênh lệch Lô 2 - Lô 1 (g) Tỷ lệ Lô 2 / Lô 1 (%)
Tuần thứ 1 117,14 195,71 78,57 167,07
Tuần thứ 2 134,28 202,85 68,57 151,06
Tuần thứ 3 165,71 245,71 80,00 148,27
Tuần thứ 4 145,71 234,28 88,57 160,78
Tính chung (Sơ sinh - cai sữa) 140,70 219,60 78,30 156,08
  • Diễn biến hội chứng tiêu chảy và thử nghiệm điều trị: Khóa luận khảo sát các yếu tố dịch tễ học ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trại qua các tháng và các lứa tuổi; mô tả chi tiết các triệu chứng lâm sàng quan sát được trên mẫu bệnh lợn (n = 100 con) như bỏ ăn, ủ rũ, phân màu trắng/vàng nhạt bết dính hậu môn, gầy sút, thân nhiệt không tăng. Đề tài kiểm chứng hiệu lực của các phác đồ điều trị thực nghiệm:
    • Đối với phân trắng lợn con: Cho uống VIAQUIO (1,5 ml/ngày, liên tục 3 - 5 ngày) đạt tỷ lệ khỏi 95,0% (190/200 con); tiêm bắp LINCOMYCIN (5 ml/25 kg thể trọng, liên tục 3 - 5 ngày) đạt tỷ lệ khỏi 92,3% (132/143 con); tiêm kết hợp NORCOLI-WI (2 ml/con) với Vitamin B1 (3 ml/con) đạt tỷ lệ khỏi 92,25% (148/160 con).
    • Đối với hội chứng tiêu chảy lợn con nói chung: Sử dụng kết hợp AMPISUR (1 ml/con) và ADE - B.COMPLEX (1 ml/con) trong 3 - 5 ngày cho tỷ lệ điều trị khỏi đạt 94,28% (330/350 con).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể về sinh trưởng và thú y học lâm sàng:

  • Xác lập số liệu thực nghiệm chứng minh con lai tạo ra từ nái mẹ mang 3/4 máu Landrace (Lô 2) có ưu thế sinh trưởng vượt trội toàn diện so với nái mẹ mang 1/4 máu Landrace (Lô 1) khi cùng phối với đực Pietrain trong điều kiện nuôi dưỡng tại địa phương. Khối lượng sơ sinh của Lô 2 đạt 1,46 kg (cao hơn Lô 1 tới 53,68%), khối lượng cai sữa lúc 4 tuần tuổi đạt 7,61 kg (vượt Lô 1 là 2,72 kg, tương đương 55,62%).
  • Tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày suốt giai đoạn theo mẹ của con lai Lô 2 đạt 219,60 g/con/ngày, cao hơn Lô 1 (140,70 g/con/ngày) tới 78,30 g/ngày (bằng 156,08%). Đỉnh điểm tăng khối lượng của cả hai lô đều đạt ở tuần thứ 3 (Lô 1 đạt 165,71 g/ngày; Lô 2 đạt 245,71 g/ngày).
  • Về công tác thú y, nghiên cứu khẳng định tính khả thi của quy trình tiêm phòng vaccine phòng 5 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (dịch tả, suyễn, LMLM, giả dại, tai xanh) với tỷ lệ bảo hộ an toàn đạt 100%. Các phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy và phân trắng lợn con bằng kháng sinh đặc hiệu đường ruột (VIAQUIO, LINCOMYCIN, NORCOLI-WI, AMPISUR) kết hợp vitamin nhóm B và ADE đều mang lại tỷ lệ khỏi bệnh cao, dao động từ 92,25% đến 96,12%.
  • Kiến nghị thực tiễn của tác giả: Trang trại cần tăng cường kiểm soát quy trình khử trùng người và phương tiện ra vào do vị trí trại giáp khu dân cư; sử dụng kháng sinh có kiểm soát, tránh lạm dụng bừa bãi gây hiện tượng kháng thuốc; chú trọng các biện pháp kỹ thuật chống nóng cho đàn lợn trong mùa hè; đào tạo tay nghề thường xuyên cho công nhân trực tiếp sản xuất.

So với các công bố khoa học trước đây (điển hình là số liệu của Trần Văn Phùng và cs, 2004 đối với khối lượng sơ sinh lợn ngoại từ 1,1 - 1,2 kg), con lai Lô 2 theo dõi tại trại đạt khối lượng sơ sinh bình quân 1,46 kg, phản ánh hiệu quả tốt của công tác chọn giống nái mẹ có tỷ lệ máu ngoại cao kết hợp quy trình nuôi dưỡng nái chửa kỳ 2 đạt chuẩn dinh dưỡng tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số mặt tồn tại và hạn chế xuất phát từ điều kiện sản xuất thực tế:

  • Trang trại nằm gần khu vực dân cư nông thôn (cách khoảng 2 km), hệ thống giao thông liên xã bao quanh khiến việc thiết lập vành đai cách ly an toàn sinh học triệt để gặp nhiều khó khăn.
  • Biến động phức tạp của thời tiết khí hậu chuyển mùa và giá cả thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất và công tác khống chế bệnh đường ruột.
  • Quy mô mẫu theo dõi chuyên sâu về sinh trưởng còn giới hạn ở 42 con (21 con/lô); thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5) nên chưa theo dõi đánh giá liên tục trọn vẹn đặc điểm phát triển của lợn con và dịch tễ tiêu chảy qua các tháng nóng đỉnh điểm mùa hè (tháng 6 - tháng 8).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi ý từ giới hạn đề tài bao gồm việc tiếp tục theo dõi khả năng sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ nạc của hai tổ hợp lai này ở giai đoạn lợn thịt sau cai sữa đến khi xuất chuồng; đồng thời nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học (men vi sinh, vi khuẩn hữu ích) hoặc autovaccine phòng bệnh đường ruột nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào kháng sinh trong chăn nuôi lợn con.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi - Thú y, cũng như cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ:

  • Phần công tác phục vụ sản xuất cung cấp mô hình thực tế về cấu trúc tổ chức, quy chuẩn chuồng trại khép kín (ô chuồng nái chửa, sàn sắt nái nuôi con, hệ thống làm mát bằng dàn lạnh) và quy trình quản lý đàn nái sinh sản từ giai đoạn hậu bị, mang thai đến nuôi con bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.
  • Phần nghiên cứu chuyên đề mang lại hệ thống dẫn liệu đối chứng tin cậy về các chỉ số sinh trưởng tuyệt đối, tương đối và sinh trưởng tích lũy của lợn con theo mẹ giữa hai tổ hợp nái lai có 1/4 và 3/4 máu ngoại.
  • Phần bệnh học và điều trị thú y là nguồn tham khảo trực quan về liều lượng, cách dùng và hiệu lực điều trị của các loại thuốc kháng sinh, phác đồ kết hợp vitamin trợ sức trong xử lý hội chứng tiêu chảy và bệnh phân trắng do E. coli trên lợn con thực tế tại chuồng nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng cai sữa lúc 4 tuần tuổi của lợn con ở hai lô lai khảo sát đạt bao nhiêu và có sự chênh lệch như thế nào? Tại thời điểm cai sữa (4 tuần tuổi), lợn con ở Lô 1 (nái mẹ 1/4 Landrace phối đực Pietrain) đạt khối lượng trung bình 4,89 ± 0,05 kg ($C_v$ = 4,57%). Lợn con ở Lô 2 (nái mẹ 3/4 Landrace phối đực Pietrain) đạt khối lượng trung bình 7,61 ± 0,08 kg ($C_v$ = 4,70%). Con lai ở Lô 2 có khối lượng cai sữa cao hơn Lô 1 là 2,72 kg/con, tương đương mức chênh lệch 55,62%.

2. Trang trại Đoàn Hương sử dụng loại thức ăn hỗn hợp nào cho đàn nái và lợn con trong thời gian theo dõi? Trại sử dụng thức ăn hỗn hợp công nghiệp do Công ty Cổ phần JAPFA COMFEED Việt Nam sản xuất:

  • Cám LN 07 dùng cho lợn nái chửa và nái nuôi con, có thành phần dinh dưỡng gồm: đạm thô tối thiểu 15%, chất béo 5%, xơ tối đa 6%, canxi 0,8 - 1,5%, phospho tối thiểu 0,7%, muối 0,2 - 1% và năng lượng trao đổi tối thiểu 3.000 kcal/kg;
  • Cám LT01 giàu đạm và năng lượng chuyên dụng để tập ăn sớm và nuôi lợn con đến lúc cai sữa.

3. Phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con nào mang lại tỷ lệ khỏi cao nhất trong quá trình thực tập tại trại? Trong các phác đồ điều trị phân trắng lợn con do trực khuẩn E. coli gây ra tại trại, phác đồ cho lợn con uống VIAQUIO với liều 1,5 ml/ngày liên tục trong 3 - 5 ngày mang lại tỷ lệ khỏi cao nhất, đạt 95,0% (chữa khỏi 190 con trên tổng số 200 con điều trị). Các phác đồ tiêm bắp Lincomycin và Norcoli-WI kết hợp Vitamin B1 đạt tỷ lệ khỏi lần lượt là 92,30% và 92,25%.

4. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình từ sơ sinh đến cai sữa của lợn con ở hai lô nghiên cứu là bao nhiêu? Sinh trưởng tuyệt đối bình quân trong toàn bộ giai đoạn theo mẹ (từ sơ sinh đến 4 tuần tuổi) của lợn con Lô 1 đạt 140,70 g/con/ngày; trong khi đó, lợn con Lô 2 đạt 219,60 g/con/ngày. Tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày của Lô 2 vượt Lô 1 là 78,30 g/con/ngày, tương đương tăng 56,08%.

5. Lịch tiêm phòng vaccine đối với đàn lợn con theo mẹ tại trại được quy định như thế nào? Tại trại chăn nuôi Đoàn Hương, quy trình tiêm phòng và bổ sung vi chất cho lợn con được thực hiện theo các mốc ngày tuổi: bổ sung sắt (Fe) lần 1 vào lúc 3 ngày tuổi và lần 2 vào lúc 10 ngày tuổi; tiêm phòng vaccine phòng bệnh suyễn lợn lần 1 lúc 7 ngày tuổi và lần 2 lúc 18 ngày tuổi; tiêm phòng vaccine dịch tả lợn lần 1 vào giai đoạn 15 - 21 ngày tuổi (lần 2 tiến hành lúc 70 ngày tuổi).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Huệ đã tổng hợp toàn diện các khía cạnh tổ chức chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng và thú y lâm sàng tại một trang trại chăn nuôi lợn thực tế ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp minh chứng rõ nét về ưu thế sinh trưởng vượt trội của tổ hợp lợn lai sử dụng nái mẹ 3/4 máu Landrace so với nái 1/4 máu Landrace khi cùng phối giống với đực Pietrain trên các chỉ tiêu khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa và tăng trọng bình quân ngày. Đồng thời, đề tài ghi nhận hiệu quả kiểm soát bệnh đường ruột thông qua lịch tiêm phòng vaccine nghiêm ngặt kết hợp các phác đồ điều trị tiêu chảy, phân trắng lợn con bằng kháng sinh và liệu pháp trợ sức đạt tỷ lệ hồi phục trên 92%.