Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm về giống lợn địa phương Lào 1. Đặc điểm chung Lợn địa phương của Lào có năng suất sinh sản kém, khối lượng lúc trưởng thành thấp, sinh trưởng chậm, tỷ lệ mỡ cao nhưng chống chịu bệnh tật tốt.
Lợn địa phương của Lào thuộc giống Sus và giống Scrofa hay Sus domesticus. Hiện nay tại CHDCND Lào có 4 giống lợn như: Lợn Lạt, lợn Mông, lợn Chít, lợn Đeng (lợn đỏ) (Soukanhet và cs. Đặc điểm của giống lợn Lạt Lợn Lạt có mặt trong mọi miền của Lào nhưng gặp nhiều tại miền Bắc và miền Trung của Lào, có thân hình nhỏ, màu đen, có dấu chấm trắng trên trán, lợn cái có khối lượng lớn hơn con đực. Con cái có khối lượng khoảng 80 - 100 kg, con đực thì khoảng 60 - 80 kg.
Giống lợn Lạt nuôi tại các tỉnh miền Bắc Lào 1. Đặc điểm của giống lợn Mông Lợn Mông gặp nhiều trên vùng miền có người Mông (Lào sung) sinh sống như Noong Hót tỉnh Xiêng Khoảng, các tỉnh miền Bắc và miền Trung của Lào. Lợn Môngcó thân hình lớn hơn lợn Lạt, màu đen. Lợn cái có khối lượng lớn hơn con đực.
Con cái có khối lượng khoảng 85 - 120 kg, con đực thì khoảng 60 - 80 kg. n 5 Giống lợn Mông nuôi tại Noong Hót tỉnh Xiêng Khoảng 1. Đặc điểm của giống lợn Chít Lợn Chít gặp ở các tỉnh miền Trung của Lào và được nuôi nhiều là tỉnh Bo Ly Kham Xay và Kham Muôn có màu đen, thân hình nhỏ bé. Con cái có khối lượng khoảng 40 - 60 kg, con đực thì khoảng 30 - 40 kg.
Giống lợn lợn Chít nuôi các tỉnh miền Trung của Lào 1. Đặc điểm của giống lợn Đeng (lợn đỏ) Đây cũng là một giống lợn địa phương của Lào chỉ gặp ở các tỉnh miền Nam của Lào, đặc biệt là tỉnh Chăm Sa Sắc. Giống lợn này chưa được nghiên cứu sâu, người ta chỉ nghi ngờ đó là kết quả của tổ hợp lai giữa giống lợn Duroc và giống lợn địa phương của Lào. Chúng có thân hình thon, màu đỏ, trán ngắn, khối lượng khoảng 65 - 90 kg.
Giống lợn Đeng nuôi tại các tỉnh Miền Nam Lào n 6 1. Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn - Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, vì sự nghiên cứu của chúng phụ thuộc vào sự đo lường. Hầu hết những tính trạng có giá trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng chịu sự tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như phân ly, tổ hợp, liên kết… Mỗi gen thường có tác động cộng gộp lớn hơn, tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp, cũng có thể là không, ngoài ra còn có các kiểu tác động ức chế nhau giữa các gen nằm ở những locus khác nhau.
Có hai hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng và mỗi hiện tượng di truyền này có một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền cho giống vật nuôi. Trước hết đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc và quan hệ thân thuộc càng gần con vật càng giống nhau. Đó là cơ sở di truyền cho sự chọn lọc và sau đó là sự suy hóa cận thân. Thứ hai là hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai, đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng Tính trạng số lượng dễ chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường. Vật nuôi sống trong một môi trường nhất định nên sự hình thành hoạt động của tính trạng không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường. Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng được biểu thị qua giá trị của kiểu gen và sai lệch môi trường. P=G+E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value) G: Giá trị kiểu gen (Genotypic Value) E: Sai lệch môi trường (Environmental Deviation) Tùy theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen có thể bao gồm các thành phần khác nhau.
G=A+D+I n 7 “A” gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không thay đổi có thể di truyền được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể là cơ sở di truyền của việc chọn giống. “D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong cùng một locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp là bằng nhau. Khi xem xét một locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị giống A và giá trị di truyền đó chính là sai lệch trội D. Do vậy: G = A + D “I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tương tác nên kiểu gen là do từ hai locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm một sai lệch do sự tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau.
- Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn Hệ số di truyền là tỷ lệ phần trăm do gen quy định trong việc tạo nên kiểu hình. Hệ số di truyền có hai loại đó là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và hệ số di truyền theo nghĩa rộng. Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị giá trị kiểu hình được quyết định bởi các gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con. h2 = VA/Vp Hệ số di truyền của một tính trạng càng lớn thì khả năng di truyền của tính trạng đó càng cao.
Ngược lại, hệ số di truyền của tính trạng càng nhỏ thì khả năng di truyền của tính trạng đó càng thấp và khả năng biến đổi của chúng dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường càng lớn. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị phần phương sai giá trị kiểu hình của các cá thể được quyết định bởi các phương sai giá trị kiểu gen. h2 = VG/Vp Trong đó: VG là phương sai giá trị kiểu hình VP là phương sai giá trị kiểu gen Ở lợn, các tính trạng có hệ số di truyền thấp hầu hết là các tính trạng sinh sản, còn các tính trạng có hệ số di truyền cao hơn là các tính trạng có liên quan tới chất lượng sản phẩm và sự sinh trưởng. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái * Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài.
- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp. Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4-7g. Ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm. - Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn là tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo.
Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời. Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh. Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi. - Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung.
Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m. Độ dài này thích hợp cho việc mang đa thai. Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung dài 5cm, cổ tử cung dài 10cm và có đường kính ngoài 2 - 3cm. Tử cung có nhiều chức năng.
Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ. - Âm đạo: Có cấu tạo giống như một ống cơ có thành dày, dài 10 - 12cm. Đây là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ. - Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm âm môn, âm vật và tiền đình.
* Đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật, đồng thời là chức năng duy trì nòi giống và tái sản xuất của vật nuôi. Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật. Đó là quá trình có n 9 sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung con cái và sinh ra đời con. Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục.
Lợn cái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng. Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung, đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ. Chu kỳ này xuất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính, kết thúc khi già yếu. Thời gian của một chú kỳ được tính từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau.
Chu kỳ động dục của lợn cái là một trong các chỉ tiêu quan trọng của sinh sản và được điều khiển bởi hai yếu tố thần kinh, thể dịch. Khi các nhân tố ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực. tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Lutein Stimulin Hormone). FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng.