Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số giống lợn nuôi tại Bắc Kạn 1. Giống lợn Địa phương Ở nước ta hiện nay, tập đoàn giống lợn Địa phương rất phong phú. Miền núi phía Bắc Việt Nam nuôi phổ biến là các giống: lợn Mẹo, lợn Mường Khương, lợn Táp Ná, lợn Địa phương của một số tỉnh miền núi phía Bắc,.
Trải qua quá trình chọn lọc, các giống lợn ở nước ta đã thích nghi với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa phương. Chúng có đặc điểm di truyền quý giá đó là khả năng sử dụng các loại thức ăn thô xanh, nghèo dinh dưỡng và tính chống chịu các bệnh tật nhiệt đới rất tốt, nhất là bệnh ký sinh trùng. Một số giống lợn đẻ nhiều con và có phẩm chất thịt thơm ngon, một số giống thích nghi với vùng núi cao, nhiệt độ thấp và một số lại quen với môi trường ẩm ướt (Lê Viết Ly, 1994) [13]. Giống lợn Địa phương có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, là con vật thân thuộc được nuôi nhiều nhằm cung cấp thịt mỡ cho nhu cầu của con người.
Giống lợn Địa phương có những ưu điểm nổi bật như rất phù hợp với điều kiện tự nhiên miền núi phía Bắc, điều kiện canh tác của nhân dân miền núi, khả năng chịu đựng kham khổ cao, thích hợp với phương thức chăn nuôi chăn thả. Thịt và mỡ lợn thơm ngon, được người dân ưa chuộng. Tuy nhiên, chúng cũng có nhiều nhược điểm như kết cấu ngoại hình xấu, lưng võng, bụng xệ, tầm vóc nhỏ, đẻ ít con, sinh trưởng chậm. Mặc dù có một số nhược điểm như vậy, nhưng đây vẫn là con vật được người dân địa phương ưa chuộng và nuôi nhiều.
Do một số quan niệm chưa khoa học của người dân trong công tác chọn giống và chăm sóc nuôi dưỡng, cùng với xu thế phát triển hiện nay, với trào lưu phát triển của các giống lợn nhập nội có năng suất cao đã tạo ra các giống lợn lai với ưu thế n 5 hơn hẳn thì các giống lợn bản địa có xu hướng bị thu hẹp dần. Đặc biệt với nhóm lợn đen tuyền của giống lợn bản địa nuôi tại Bắc Kạn, do những đặc điểm ưu việt về chất lượng thịt được người tiêu dùng ưa chuộng cho nên xu thế tuyệt chủng đang dần hiện hữu. Vì vậy chúng ta cần tìm ra các biện pháp bảo tồn và phát triển các giống lợn Địa phương. Đặc điểm của giống lợn Địa phương nuôi tại Bắc Kạn: dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm 3 nhóm như sau: • Nhóm đen tuyền: Toàn thân đen tuyền, nhóm này có đặc điểm là tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn.
Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc Mông và dân tộc Dao. Hiện nay số lượng lợn này còn không nhiều chỉ chiếm từ 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt. Nguyên nhân là do mặc dù có khối lượng nhỏ, lớn chậm nhưng thịt ngon, nên nhiều người tìm mua bán về dưới xuôi, làm suy giảm đáng kể số lượng đàn lợn. Địa phương cần có biện pháp bảo tồn tránh nguy cơ tuyệt chủng.
Nhóm lợn đen tuyền • Nhóm lợn đen có một số điểm trắng Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi có một nhúm lông màu trắng. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc Mông và dân tộc Dao. Về số lượng đàn n 6 lợn này chiếm tỷ lệ tương đối cao trong đàn lợn địa phương. Trong đàn lợn nái, nhóm lợn đen có một số điểm trắng chiếm từ 40,24% - 58,33%; đối với đàn lợn thịt chiếm từ 30,99% - 43,79%.
Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm đen tuyền. • Nhóm lợn lang trắng đen Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ. Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít. Các vết lang này thường phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi.
Phần còn lại có da và lông màu đen. Nhóm lợn này chiếm từ 33,34% - 53,66% tổng đàn lợn nái; từ 52,29 - 66,59% tổng đàn lợn thịt. Nhìn chung, nhóm lợn lang trắng đen này có tầm vóc to hơn và lớn nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống. Nhóm giống lợn đen Hình 1.
Nhóm giống lợn lang có điểm trắng trắng đen 1. Giống lợn Móng Cái Giống lợn Móng Cái (MC) là giống lợn nội phổ biến nhất ở Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Đầm Hà và huyện Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Lợn MC được nuôi hầu hết ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh Tây Nguyên. n 7 Lợn MC có tầm vóc trung bình khối lượng lúc 8 tháng tuổi đạt khối lượng 65-75kg.
Lợn có mình ngắn, cổ ngắn, tai nhỏ, lưng võng, bụng sệ. Phần lớn cơ thể có màu đen, trừ 6 điểm trắng đó là một đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi có chùm lông màu trắng, bụng trắng và bốn chân trắng. Đặc biệt, mỗi khoang trắng nối giữa 2 bên hông với nhau vắt qua vai giống hình yên ngựa là nét đặc trưng nhất về màu sắc của giống lợn MC (Nguyễn Thiện và cộng sự, 2005) [23]. Lợn MC sinh trưởng chậm: 2 tháng tuổi nặng 6 kg, 10 tháng tuổi đạt khoảng 80-85kg, phát dục sớm; lợn cái 5 tháng tuổi, lợn đực 4 tháng tuổi có khả năng phối giống và có chửa.
Lợn MC có từ 8-16 vú, thông thường là 12 vú. Lợn có khả năng sinh sản tốt nhất trong số các giống lợn nội Việt Nam. Số con sơ sinh mỗi lứa cao (11-13 con), khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 165-175 ngày, lợn nái đẻ 2,1-2,2 lứa/năm, có khả năng nuôi con khéo. Khối lượng sơ sinh thấp khoảng 0,5-0,6 kg/con.
Tăng trưởng chậm, tốc độ tăng khối lượng thuần nuôi thịt trung bình đạt 330g/con/ngày, biến động từ 200-400g/con/ngày. Tỷ lệ móc hàm thấp 70- 75%, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ 33-35%, tỷ lệ mỡ/thịt xẻ 35-38%, tiêu tốn thức ăn cao 4,0-4,5kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Lợn MC dễ nuôi, có khả năng thích ứng với hầu hết môi trường sinh thái của Việt Nam, kể cả nơi có điều kiện chăn nuôi chưa phát triển, môi trường sinh thái chưa tốt. Lợn MC ăn tạp có khả năng ăn được hầu hết các loại thức ăn, tận dụng được hầu hết các nguồn thức ăn dư thừa và các loại thức ăn chất lượng thấp, có sức kháng bệnh cao (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 2005) [23].
Hướng sử dụng: Lợn MC chủ yếu làm lợn nái nền cho phối giống với đực giống ngoại để khai thác ưu thế lai, nhằm phát huy những gen sinh sản tốt. Ngoài việc sử dụng làm cái nền còn dùng lợn MC lai với các giống lợn nhập nội như: Yorkshire, Landrace tạo ra đàn nái lai để tạo các tổ hợp lai 3 hoặc 4 máu nuôi thịt để đạt tăng khối lượng và tăng tỷ lệ nạc cao, chất lượng n 8 thơm ngon và hiệu quả kinh tế nhờ khai thác tối đa ưu thế lai đối với các tính trạng sản xuất. Giống lợn Yorshire Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorkshire của nước Anh. Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có một số con đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14 vú.
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 1,2kg/con. Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành lên tới 300kg (con đực), 250kg (con cái), có mức tăng khối lượng bình quân 700g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%. Lợn nái Yorkshire mỗi năm có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa, mỗi lứa trung bình 8 - 10 con, trọng lượng sơ sinh của heo con đạt từ 1,0 - 1,8kg, sản lượng sữa thường cao, nuôi con giỏi (Ngọc Lễ, 2001), [52] 1. Giống lợn Landrace Có nguồn gốc từ Đan Mạch thân hình nêm, lông da màu trắng tuyền, mõm dài và thẳng, hai tai to ngả về phía trước che cả mắt, mình lép, bốn chân n 9 hơi yếu.
Thích nghi khá tốt với điều kiện ở Việt Nam. Đẻ nhiều và nuôi con khéo, giống này thường được chọn làm dòng cái trong chăn nuôi. Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và được dùng để lai kinh tế. Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0kg/kg tăng khối lượng, tăng khối lượng bình quân 750g/con/ngày, tỷ lệ nạc 59%.
Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320kg ở con đực và 250 kg ở con cái, khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo, mỗi lứa đẻ từ 10-14 con, ở 6 tháng tuổi, lợn Landrace đạt thể trọng 80 - 90kg, lợn nái mỗi năm đẻ 1,8 - 2,2 lứa, nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt có thể đạt 2,5 lứa. Mỗi lứa đẻ nái sinh từ 8 - 12 con, lợn nái nuôi con tốt, tỷ lệ nuôi sống cao, nhưng dễ mắc các bệnh sinh sản như: Mất sữa hoặc viêm nhiễm đường sinh dục (Atlas các giống vật nuôi ở Việt Nam), [51] 1. Sức sản xuất của lợn nái 1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái Lợn cái khi thành thục về tính có biểu hiện động dục, hoạt động sinh dục theo chu kỳ, trứng có thể rụng, con cái có khả năng có chửa, đẻ và tiết sữa nuôi con.
Tuổi thành thục về tính của các giống lợn có sự khác nhau, đối với lợn ngoại và lợn lai thời gian thành thục về tính khoảng 6 - 8 tháng tuổi, sự thành thục về thể vóc chậm hơn thành thục về tính. Sự hoàn chỉnh về tầm vóc liên quan đến khả năng đảm bảo cho việc tiết sữa nuôi con, do đó xác định thời gian phối giống lần đầu tiên còn phụ thuộc vào cường độ sinh trưởng của lợn cái trong giai đoạn hậu bị. Xác định thời điểm phối giống để đạt kết quả là hết sức quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế. Thời điểm phối giống thích hợp được nhận biết thông qua chu kỳ tính của lợn nái.