Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng giữ vị trí trọng yếu trong phát triển kinh tế. Cùng với sự cải thiện về đời sống xã hội, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn không chỉ gia tăng về sản lượng mà còn đòi hỏi nâng cao chất lượng, đặc biệt là tỷ lệ nạc cao và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Để đáp ứng yêu cầu này, việc nhập khẩu và phát triển các giống lợn ngoại cao sản như Landrace, Yorkshire, Duroc nhằm nhân thuần và phục vụ các công thức lai kinh tế tại các cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại là hướng đi tất yếu.

Nghiên cứu được triển khai nhằm thực hiện mục tiêu chính:

  1. Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái Landrace được nuôi dưỡng trong điều kiện trang trại tập trung tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

Để hoàn thành mục tiêu nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của đàn lợn nái Landrace (thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian động dục, tỷ lệ phối giống thụ thai lần 1, thời gian mang thai).
  2. Xác định năng suất sinh sản của lợn nái qua các chỉ tiêu số lượng (số con đẻ ra/lứa, số con sống sau 24 giờ, số con nuôi sống đến 14 ngày, 21 ngày cai sữa và 35 ngày tuổi).
  3. Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con lai (công thức lai đực Duroc $\times$ nái Landrace) từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi.
  4. Trực tiếp tham gia và đánh giá kết quả công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở bao gồm: quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, công tác vệ sinh thú y, lịch tiêm phòng vắc xin và chẩn đoán điều trị các bệnh truyền nhiễm, nội khoa thường gặp.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản giống Landrace và đàn lợn con sinh ra từ tổ hợp lai phối giữa lợn đực Duroc và lợn nái Landrace ($\text{D} \times \text{L}$).
  • Địa điểm nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi lợn nái Nguyễn Xuân Dũng, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18/11/2015 đến ngày 25/05/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý thuyết về di truyền, chọn giống và sinh lý sinh sản gia súc:

  • Đặc điểm sinh học giống lợn Landrace: Giống lợn có nguồn gốc từ Đan Mạch (công nhận năm 1925), nhập vào Việt Nam qua các giai đoạn từ Cu Ba (1970), Bỉ và Nhật Bản (1975–1986). Lợn có ngoại hình đặc trưng dạng hình nêm/hình tên lửa, lông trắng tuyền, thân dài (16–17 đôi xương sườn), tai to cụp rủ che mắt, 12–14 vú; hướng chuyên nạc với tỷ lệ nạc/thịt xẻ đạt 58–60%, tăng trọng ngày 700–800 g, tiêu tốn thức ăn 2,70–3,01 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
  • Sinh lý sinh dục và chu kỳ tính: Tuổi thành thục về tính ở lợn ngoại dao động từ 180–210 ngày; chu kỳ động dục kéo dài 18–22 ngày với 4 pha sinh lý (tiền động dục 2–3 ngày, động dục 2–3 ngày, sau động dục 1 ngày và giai đoạn nghỉ ngơi); thời gian mang thai trung bình 114 ngày (dao động 112–116 ngày). Quá trình phát triển bào thai chia làm 3 giai đoạn: phôi thai (1–22 ngày), tiền thai (23–39 ngày) và bào thai (40–114 ngày).
  • Hệ thống tiêu chuẩn giám định: Áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1280-72 và TCVN 1282-79 trong giám định năng suất sinh sản lợn nái (số con sơ sinh còn sống, khối lượng ổ lúc 21 ngày tuổi, khối lượng ổ lúc 60 ngày tuổi, tuổi đẻ lứa đầu).
  • Đặc điểm sinh lý lợn con theo mẹ: Sự biến đổi hàm lượng $\gamma\text{-globulin}$ huyết thanh từ sữa đầu, hàm lượng sắt suy giảm nhanh từ 187 mg% xuống 40,58 mg% ở ngày thứ 20, đặc điểm thiếu hụt axit HCl tự do trong dịch vị dạ dày trước 21 ngày tuổi và khả năng điều hòa thân nhiệt kém trong tuần đầu sau sinh.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trực tiếp tại chuồng trại:

  • Bố trí theo dõi thực nghiệm: Theo dõi trực tiếp trên đàn 10 lợn nái Landrace phối giống thụ tinh nhân tạo với tinh dịch lợn đực Duroc và theo dõi 101 lợn con sinh ra.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Ghi chép nhật trình sinh sản theo sổ theo dõi cá thể của trang trại; cân khối lượng lợn con bằng cân kỹ thuật qua các mốc: sơ sinh (sau khi lau khô, cắt rốn, bấm nanh, trước khi bú đầu), 14 ngày tuổi, 21 ngày tuổi (cai sữa) và 35 ngày tuổi.
  • Công thức tính toán các chỉ tiêu:
    • Tỷ lệ nuôi sống (%): $$\text{Tỷ lệ nuôi sống (%)} = \frac{\text{Số con cuối kỳ}}{\text{Số con đầu kỳ}} \times 100$$
    • Sinh trưởng tuyệt đối ($A$, đơn vị g/con/ngày): $$A = \frac{P_2 - P_1}{t_2 - t_1}$$ (Trong đó $P_1, P_2$ là khối lượng đầu kỳ và cuối kỳ tính bằng gam; $t_1, t_2$ là thời điểm cân đầu kỳ và cuối kỳ tính bằng ngày)
    • Sinh trưởng tương đối ($R$, đơn vị %): $$R = \frac{P_2 - P_1}{\frac{P_1 + P_2}{2}} \times 100$$
  • Phương pháp xử lý thống kê sinh học: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2000), xác định các tham số: số trung bình cộng ($\bar{X}$), sai số của số trung bình ($m_{\bar{x}}$), độ lệch tiêu chuẩn ($S_X$) và hệ số biến dị ($C_v%$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu năng suất sinh sản của giống lợn ngoại Landrace trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp tại miền Bắc Việt Nam. Xác định mục tiêu đề tài là đánh giá toàn diện khả năng sinh sản của giống lợn Landrace nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng (Ba Vì, Hà Nội), tạo cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm khuyến cáo người chăn nuôi lựa chọn giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật chi tiết các tài liệu khoa học trong và ngoài nước:

  • Khái quát lịch sử hình thành, chọn lọc và đặc điểm sinh học của giống lợn Landrace trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Cơ chế điều hòa thần kinh - thể dịch của chu kỳ động dục, quá trình rụng trứng, thụ tinh và sinh lý phát triển 3 giai đoạn của bào thai trong tử cung lợn nái.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản (di truyền, dinh dưỡng, nhiệt độ chuồng nuôi, thời gian chiếu sáng, mật độ nuôi và kỹ thuật kích thích bằng lợn đực).
  • Tổng hợp các công trình nghiên cứu của Đặng Vũ Bình, Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân, Đinh Văn Chỉnh, Jose Bento về năng suất sinh sản của lợn Landrace (số con đẻ ra dao động từ 8,61 đến 11,61 con/ổ; tỷ lệ sống và khối lượng sơ sinh).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái Landrace và đàn con lai $\text{Duroc} \times \text{Landrace}$. Thiết kế nội dung nghiên cứu thành hai hợp phần:

  1. Công tác phục vụ sản xuất: Trực tiếp thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, nái đẻ, lợn con theo mẹ; công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng; lịch phòng bệnh bằng vắc xin và công tác chẩn đoán, điều trị bệnh nội khoa, sản khoa, truyền nhiễm.
  2. Chuyên đề nghiên cứu khoa học: Khảo sát các chỉ tiêu sinh lý sinh dục (chu kỳ, thời gian động dục, thời gian chửa), các chỉ tiêu năng suất đàn con (số con/lứa, khối lượng qua các mốc 0, 14, 21, 35 ngày tuổi, tăng khối lượng tuyệt đối và tương đối).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm và kết quả thực hành sản xuất:

1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất:

  • Nuôi dưỡng nái chửa: Áp dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 566.F cho nái chửa tuần 1 đến tuần 14 với định mức 1,45–2,0 kg/con/bữa (2 bữa/ngày); từ tuần 15 trở đi chuyển sang thức ăn 567.SF với định mức 2,0–2,5 kg/con/bữa.
  • Nuôi dưỡng nái đẻ và lợn con: Chuyển nái lên chuồng đẻ trước 7–10 ngày, cho ăn 3 kg/ngày; giảm còn 0,5 kg trước ngày đẻ 1 ngày; sau đẻ 2 ngày tăng dần từ 0,5 đến 3 kg/ngày. Lợn con được cắt đuôi, bấm nanh, tiêm Han-tuxin phòng suyễn ngay sau đẻ; 3–4 ngày tuổi thiến lợn đực, tiêm sắt Prolongal, uống Baycox 5% phòng cầu trùng; 4–6 ngày tuổi tập ăn thức ăn hỗn hợp 550; 10–14 ngày tiêm vắc xin Tobacoli (phòng sưng phù đầu); 21–22 ngày tiêm vắc xin dịch tả lợn Coglapest và tiến hành cai sữa.
  • Công tác vệ sinh - sát trùng: Phun tiêu độc chuồng trại định kỳ 2 ngày/lần bằng thuốc sát trùng HANMID với nồng độ 5–10 g/lít nước; chuồng đẻ sau khi cai sữa được quét vôi, phơi khô 2 ngày trước khi nhập đàn mới.
  • Kết quả điều trị và thủ thuật thú y:
    • Tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn cho lợn con: 251/251 con (đạt 100%).
    • Tiêm phòng vắc xin suyễn cho lợn con: 251/251 con (đạt 100%).
    • Tiêm phòng vắc xin sảy thai truyền nhiễm cho lợn nái: 11/11 con (đạt 100%).
    • Tiêm Dextran-Fe phòng thiếu máu cho lợn con: 94/94 con (đạt 100%).
    • Đỡ đẻ an toàn: 94 con (đạt 100%).
    • Thiến lợn đực an toàn: 38/38 con (đạt 100%).
    • Thụ tinh nhân tạo: Dẫn tinh 68 nái, đậu thai 66 nái (đạt tỷ lệ 97,06%).
    • Điều trị viêm tử cung nái (dùng Oxytocin 4 ml/con kết hợp Amoxisol 1 ml/10 kg khối lượng cơ thể trong 3–7 ngày): Khỏi 4/4 con (đạt 100%).
    • Điều trị bệnh phân trắng lợn con (dùng Baytril 5% liều 1 ml/10 kg khối lượng cơ thể trong 3 ngày): Khỏi 41/46 con (đạt 89,10%).
STT Nội dung công tác Số lượng thực hiện (con) Kết quả đạt (con) Tỷ lệ thành công (%)
1 Tiêm vắc xin dịch tả lợn con 251 251 100,00
2 Tiêm vắc xin suyễn lợn con 251 251 100,00
3 Tiêm vắc xin sảy thai truyền nhiễm nái 11 11 100,00
4 Tiêm Dextran-Fe cho lợn con 94 94 100,00
5 Thiến lợn đực 38 38 100,00
6 Thụ tinh nhân tạo 68 66 97,06
7 Điều trị viêm tử cung lợn nái 4 4 100,00
8 Điều trị phân trắng lợn con 46 41 89,10

2. Kết quả chuyên đề sinh lý sinh sản và năng suất lợn nái Landrace:

  • Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục trên đàn nái theo dõi ($n=10$):
    • Thời gian động dục trở lại sau cai sữa: $5,20 \pm 0,31$ ngày.
    • Thời gian động dục: 3,5 ngày.
    • Tỷ lệ phối giống thụ thai lần 1: 100,00% (10/10 nái).
    • Thời gian mang thai: $115,1 \pm 0,45$ ngày.
  • Năng suất sinh sản của tổ hợp lai $\text{Duroc} \times \text{Landrace}$ ($n=10$ nái đẻ, tổng số 107 lợn con đẻ ra):
    • Số lợn con đẻ ra/lứa: $10,7 \pm 0,47$ con.
    • Số lợn con sống sau 24 giờ: 10,4 con/lứa (tỷ lệ nuôi sống 97,19%).
    • Số lợn con sống sau 14 ngày: 10,1 con/lứa (tỷ lệ nuôi sống 97,11%).
    • Số lợn con sống đến khi cai sữa (21 ngày tuổi): 10,1 con/lứa (tỷ lệ nuôi sống 97,11%).
    • Số lợn con sống đến 35 ngày tuổi: 10,1 con/lứa (tỷ lệ nuôi sống 97,11%).
STT Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Kết quả ($\bar{X} \pm m_{\bar{x}}$)
1 Số lợn nái theo dõi Con 10
2 Tổng số lợn đẻ ra Con 107
3 Số lợn con đẻ ra/lứa Con/lứa $10,7 \pm 0,47$
4 Số con sống sau 24 giờ Con/lứa 10,4
5 Tỷ lệ sống sau 24 giờ % 97,19
6 Số con sống đến 14 ngày tuổi Con/lứa 10,1
7 Tỷ lệ nuôi sống sau 14 ngày % 97,11
8 Số con sống đến cai sữa (21 ngày tuổi) Con/lứa 10,1
9 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (21 ngày) % 97,11
10 Số con sống đến 35 ngày tuổi Con/lứa 10,1
11 Tỷ lệ nuôi sống đến 35 ngày tuổi % 97,11

3. Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con thí nghiệm ($n=101$):

  • Khối lượng tích lũy qua các kỳ cân:
    • Khối lượng sơ sinh: $1,44 \pm 0,01$ kg/con.
    • Khối lượng lúc 14 ngày tuổi: $4,22 \pm 0,01$ kg/con.
    • Khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi: $5,67 \pm 0,04$ kg/con.
    • Khối lượng lúc 35 ngày tuổi: $11,84 \pm 0,07$ kg/con.
  • Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con qua từng giai đoạn:
    • Giai đoạn từ sơ sinh đến 14 ngày tuổi: 131,46 g/con/ngày.
    • Giai đoạn từ 14 ngày tuổi đến cai sữa (21 ngày tuổi): 153,47 g/con/ngày.
    • Giai đoạn từ 21 ngày tuổi đến 35 ngày tuổi: 230,01 g/con/ngày.
    • Bình quân toàn giai đoạn từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi: 180,75 g/con/ngày.
STT Giai đoạn theo dõi Khối lượng đạt được (kg/con) Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
1 Sơ sinh $1,44 \pm 0,01$ —
2 Sơ sinh đến 14 ngày tuổi $4,22 \pm 0,01$ 131,46
3 14 ngày đến cai sữa (21 ngày) $5,67 \pm 0,04$ 153,47
4 21 ngày đến 35 ngày tuổi $11,84 \pm 0,07$ 230,01
5 Bình quân toàn kỳ (0–35 ngày) $11,84 \pm 0,07$ 180,75

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khái quát kết quả cho thấy lợn nái Landrace nuôi tại trang trại thích nghi tốt, biểu hiện chu kỳ sinh dục ổn định, tỷ lệ thụ thai đạt 100%, số con đẻ ra/lứa và tỷ lệ nuôi sống lợn con đạt mức cao. Tác giả kiến nghị trang trại tiếp tục duy trì đàn nái Landrace kết hợp phối tinh Duroc để sản xuất con giống thương phẩm, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch và chăm sóc nuôi dưỡng đã thiết lập.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác định đàn nái Landrace tại trang trại có thời gian động dục lại sau cai sữa ngắn ($5,20 \pm 0,31$ ngày), tỷ lệ phối giống thụ thai lần đầu đạt 100%, thời gian mang thai trung bình đạt $115,1 \pm 0,45$ ngày.
  • Năng suất sinh sản đạt $10,7 \pm 0,47$ con đẻ ra/lứa, số con sống sau 24 giờ đạt 10,4 con/lứa ($97,19%$), tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa (21 ngày tuổi) và đến 35 ngày tuổi duy trì ở mức cao $97,11%$.
  • Tốc độ tăng trưởng của con lai Duroc $\times$ Landrace đạt khối lượng cai sữa 21 ngày tuổi là $5,67 \pm 0,04$ kg/con và 35 ngày tuổi đạt $11,84 \pm 0,07$ kg/con; tăng trọng tuyệt đối bình quân từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi đạt 180,75 g/con/ngày.

Về mặt so sánh học thuật, tác giả chỉ rõ:

  • Số con đẻ ra/lứa của đàn nái tại trại (10,7 con) cao hơn kết quả công bố của Đặng Vũ Bình (10,41 con/lứa).
  • Số con sống sau 24 giờ (10,4 con) cao hơn số liệu của Đinh Văn Chỉnh (9,91 con) và Phùng Thị Vân (9,35 con).
  • Khối lượng sơ sinh ($1,44 \text{ kg/con}$) cao hơn dẫn liệu của Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ ($1,35 \text{ kg/con}$).
  • Khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi ($5,67 \text{ kg/con}$) vượt trội so với kết quả của Đặng Vũ Bình ($4,86 \text{ kg/con}$).

Về giải pháp kỹ thuật, đề tài hoàn thiện quy trình chăm sóc nái mang thai theo 2 giai đoạn thức ăn (566.F và 567.SF), kỹ thuật tập ăn sớm cho lợn con từ 4–6 ngày tuổi bằng thức ăn 550 giúp phát triển sớm hệ nhung mao ruột non, rút ngắn thời gian cai sữa xuống 21 ngày tuổi, và áp dụng thành công phác đồ điều trị viêm tử cung (khỏi 100%) và tiêu chảy phân trắng (khỏi 89,10%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu theo dõi chuyên đề còn ở quy mô hẹp ($n=10$ lợn nái và 101 lợn con), được khảo sát trên một tổ hợp lai duy nhất ($\text{Duroc} \times \text{Landrace}$) trong phạm vi một cơ sở chăn nuôi tại Ba Vì, Hà Nội với khung thời gian theo dõi liên tục 6 tháng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô theo dõi trên số lượng nái lớn hơn qua nhiều lứa đẻ liên tiếp để đánh giá tính ổn định di truyền của đàn giống; thực hiện thêm các tổ hợp lai kinh tế khác giữa Landrace với Yorkshire hoặc Pietrain; theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân thịt (tỷ lệ nạc, diện tích cơ thăn, độ dày mỡ lưng) của đàn con lai đến giai đoạn giết mổ xuất chuồng.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thực nghiệm cho sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Chăn nuôi - Thú y:

  • Cung cấp dẫn liệu tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, chăm sóc nái chờ đẻ và kỹ thuật đỡ đẻ, can thiệp sau sinh (cắt rốn, bấm nanh, tiêm sắt, thiến hoạn).
  • Cung cấp phác đồ dùng thuốc cụ thể trong phòng trị bệnh thực tế tại trang trại, đặc biệt là lịch vắc xin cho lợn con (dịch tả, suyễn, sưng phù đầu, phòng cầu trùng) và phác đồ điều trị viêm tử cung trên nái sinh sản.
  • Cung cấp phương pháp theo dõi, biểu mẫu ghi chép và các công thức toán sinh học xử lý số liệu sinh trưởng và sinh lý sinh sản gia súc.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời gian động dục trở lại sau cai sữa và tỷ lệ phối giống thụ thai lần đầu của đàn nái Landrace trong nghiên cứu đạt bao nhiêu?
Thời gian động dục trở lại sau cai sữa của đàn lợn nái Landrace theo dõi trung bình là $5,20 \pm 0,31$ ngày; thời gian kéo dài động dục trung bình 3,5 ngày; tỷ lệ phối giống thụ thai ngay ở lần phối đầu tiên đạt 100,00% (10/10 nái).

2. Đàn lợn con lai ($\text{Duroc} \times \text{Landrace}$) có khối lượng qua các mốc cân và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối như thế nào?
Khối lượng trung bình của lợn con đạt: sơ sinh $1,44 \pm 0,01$ kg; 14 ngày tuổi đạt $4,22 \pm 0,01$ kg; 21 ngày tuổi (cai sữa) đạt $5,67 \pm 0,04$ kg; 35 ngày tuổi đạt $11,84 \pm 0,07$ kg. Sinh trưởng tuyệt đối bình quân toàn giai đoạn từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi đạt 180,75 g/con/ngày (trong đó giai đoạn 21–35 ngày đạt cao nhất với 230,01 g/con/ngày).

3. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái và bệnh phân trắng ở lợn con được áp dụng cụ thể ra sao?

  • Viêm tử cung nái: Tiêm Oxytocin liều 4 ml/con kết hợp tiêm bắp Amoxisol liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, điều trị liên tục 3–7 ngày (kết quả chữa khỏi 4/4 con, đạt 100%).
  • Phân trắng lợn con: Sử dụng Baytril 5% tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng trong 3 ngày liên tục (kết quả chữa khỏi 41/46 con, đạt 89,10%).

4. Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai tại trang trại được phân chia như thế nào theo giai đoạn chửa?
Nái chửa từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 14 được cho ăn thức ăn 566.F với định mức 1,45–2,0 kg/con/bữa (ngày 2 bữa). Từ tuần thứ 15 đến trước khi chuyển chuồng đẻ, nái được chuyển sang thức ăn 567.SF với định mức tăng lên 2,0–2,5 kg/con/bữa (ngày 2 bữa).

5. Lịch phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho đàn lợn con theo mẹ được tiến hành theo các mốc ngày tuổi nào?
Ngay sau sinh tiêm Han-tuxin phòng suyễn; 2–3 ngày tuổi tiêm thuốc bổ sung sắt Prolongal (2 ml/con) và kháng sinh phòng tiêu chảy Baytril 5% (0,5 ml/con); 3–7 ngày tuổi cho uống thuốc phòng cầu trùng Baycox 5% (1 ml/con); 10–14 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng sưng phù đầu Tobacoli (2 ml/con); 21 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng dịch tả lợn Coglapest (2 ml/con).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bích đã đánh giá thực nghiệm toàn diện các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của giống lợn nái Landrace và khả năng sinh trưởng của đàn con lai $\text{Duroc} \times \text{Landrace}$ tại trang trại Nguyễn Xuân Dũng, Ba Vì, Hà Nội. Kết quả ghi nhận đàn nái Landrace có khả năng thích nghi cao, chu kỳ sinh dục đều đặn, tỷ lệ thụ thai lần đầu đạt 100%, số con đẻ ra bình quân $10,7 \text{ con/lứa}$ cùng tỷ lệ nuôi sống đến 35 ngày tuổi đạt $97,11%$. Các dữ liệu thực nghiệm cùng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trị bệnh được hoàn thiện trong khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức sản xuất chăn nuôi lợn nái sinh sản.