Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Hạt đậu tương chứa hàm lượng protein trung bình từ 35,5% đến 40%, lipit từ 15% đến 20% (gồm cả axit béo no và không no), carbonhydrat từ 15% đến 16%, cùng nhiều khoáng chất (Ca, Fe, Mg, Na, P, K) và vitamin (B1, B2, D, K, E). Đặc biệt, protein đậu tương chứa đầy đủ các axit amin thiết yếu như tryptophan, leucine, valine, lysine và methionine. Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu công nghiệp (sơn, xà phòng, chất dẻo, mực in, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn hàng không) và xuất khẩu. Đồng thời, nhờ khả năng cộng sinh cố định đạm khí trời qua nốt sần ở rễ, đậu tương là cây trồng cải tạo đất hiệu quả, thích hợp trong các hệ thống luân canh, xen canh và gối vụ.

Tại Việt Nam, phát triển cây đậu tương là một trong 10 chương trình nông nghiệp ưu tiên nhằm khai thác lợi thế khí hậu nhiệt đới và chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên, sản xuất đậu tương trong nước những năm qua có sự suy giảm mạnh về diện tích và sản lượng. Diện tích gieo trồng cả nước giảm từ 204,10 nghìn ha năm 2005 xuống còn 120,75 nghìn ha năm 2012; sản lượng giảm từ 298,60 nghìn tấn năm 2010 xuống 175,29 nghìn tấn năm 2012; năng suất chỉ dao động từ 13,90 đến 15,10 tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân thế giới (đạt 23,03 tạ/ha năm 2012). Tại tỉnh Thái Nguyên, diện tích gieo trồng đậu tương cũng sụt giảm nghiêm trọng từ 3.600 ha năm 2004 xuống còn 1.600 ha giai đoạn 2010 - 2011, sản lượng giảm từ 4.300 tấn xuống 2.300 tấn, dù năng suất có tăng nhẹ từ 11,9 tạ/ha lên 14,4 tạ/ha nhưng vẫn thấp hơn trung bình cả nước. Nguyên nhân cơ bản là do tập quán canh tác truyền thống, diện tích đất đồi thấp chưa chủ động tưới tiêu, và đặc biệt là thiếu bộ giống tốt có khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh thái địa phương.

Trước thực trạng đó, việc khảo nghiệm các giống đậu tương mới nhằm chọn lọc giống có năng suất cao, phẩm chất tốt và khả năng chống chịu ngoại cảnh bất thuận là yêu cầu cấp thiết. Đề tài "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương có triển vọng trong vụ Xuân 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên" được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề này.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm chọn được những giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên để bổ sung giống đậu tương tốt vào cơ cấu giống của tỉnh.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể là: Xác định được giống đậu tương tốt, cho năng suất cao phù hợp với điều kiện vụ Xuân của Thái Nguyên.

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện 3 nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu chính (được đánh số theo văn bản):

  1. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm.
  2. Đánh giá tình hình sâu bệnh của các giống đậu tương thí nghiệm.
  3. Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu gồm 08 giống đậu tương: giống đối chứng DT84 (do Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam cung cấp) và 07 giống khảo nghiệm gồm ĐT19, ĐT140, ĐT22, ĐT51, ĐT20 (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam), ĐVN14 (Viện Nghiên cứu Ngô) và giống E085-10 (nhập nội từ Úc).

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chỉ tiêu nông sinh học, khả năng tích lũy vật chất khô, chỉ số diện tích lá, khả năng cố định đạm của nốt sần rễ, mức độ nhiễm sâu hại chính, khả năng chống đổ và năng suất của 8 giống đậu tương trên loại đất thịt pha cát tại Khu trồng cạn - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong vụ Xuân 2013 (gieo ngày 04/03/2013, kết thúc theo dõi và thu hoạch vào tháng 06/2013).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở khoa học về sinh lý cây trồng, di truyền học thực vật và quy trình khảo nghiệm giống nông nghiệp. Nghiên cứu vận dụng cơ chế cộng sinh giữa rễ cây họ đậu và vi khuẩn nốt sần Rhizobium japonicum để chuyển hóa nitơ tự do trong khí quyển thành dạng đạm ammoniac ($NH_3$) dễ tiêu thông qua phản ứng xúc tác của enzyme nitrogenase: $$N_2 + 8H^+ + 8e^- \xrightarrow{\text{nitrogenase, ATP}} 2NH_3 + H_2$$ Khóa luận căn cứ trên các văn bản định hướng phát triển của ngành nông nghiệp như Chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu nành và lạc đến năm 2020 (Quyết định số 20/2007/QĐ-BNN) và mục tiêu diện tích, năng suất đậu tương đến năm 2015 (Quyết định số 35/QĐ-BNN-KHCN). Toàn bộ phương pháp theo dõi các chỉ tiêu hình thái, sinh lý và năng suất được thực hiện chuẩn hóa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương (QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT).

Phương pháp nghiên cứu thực địa áp dụng bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 8 công thức (tương ứng với 8 giống) và 3 lần nhắc lại. Kích thước mỗi ô thí nghiệm là 7 m² (chiều dài 5 m $\times$ chiều rộng 1,4 m), khoảng cách rãnh giữa các lần nhắc lại là 30 cm, tổng diện tích mặt bằng thí nghiệm là 168 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ và rãnh biên).

Quy trình kỹ thuật canh tác đồng bộ áp dụng mức phân bón tính cho 1 ha gồm: 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 60 kg $P_2O_5$ + 30 kg $K_2O$ + 500 kg vôi bột. Phương pháp bón: bón lót toàn bộ phân chuồng, lân, vôi bột cùng 50% đạm và 50% kali; bón thúc lượng đạm và kali còn lại kết hợp vun xới nhẹ khi cây đạt 2 - 3 lá thật. Vun xới lần 2 kết hợp chống đổ khi cây đạt 4 - 5 lá thật.

Các chỉ tiêu sinh lý và năng suất được thu thập và tính toán bằng các công thức khoa học:

  • Chỉ số diện tích lá (CSDTL) đánh giá tại thời kỳ hoa rộ và chắc xanh theo phương pháp cắt mẫu bìa chuẩn 1 dm²: $$\text{CSDTL} = \frac{P_B}{P_A \times 100 \times 3} \times \text{mật độ (cây/m}^2\text{)}$$ Trong đó $P_A$ là khối lượng 1 dm² lá (g), $P_B$ là khối lượng bộ lá của 3 cây mẫu (g).
  • Khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK) xác định bằng cách sấy mẫu phần trên mặt đất của 3 cây ở nhiệt độ ổn định đến khối lượng không đổi ($P_K$): $$\text{KNTLVCK} = \frac{P_K}{3} \text{ (g/cây)}; \quad \text{Tỷ lệ chất khô (%)} = \frac{P_K}{P_T} \times 100$$
  • Đánh giá nốt sần hữu hiệu: lấy nguyên vẹn bộ rễ 3 cây liên tiếp, rửa sạch và đếm các nốt sần có đường kính $\ge 2,5\text{ mm}$, bên trong chứa dịch màu hồng của sắc tố leghaemoglobin.
  • Đánh giá tỷ lệ sâu hại: điều tra sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) qua tỷ lệ lá bị hại, sâu đục quả (Etiella zinckenella) qua tỷ lệ quả bị hại trên 10 cây mẫu/ô. Đánh giá khả năng chống đổ theo thang điểm từ 1 (đứng thẳng) đến 5 (đổ trên 75%).
  • Năng suất lý thuyết (NSLT) và năng suất thực thu (NSTT) được tính theo công thức: $$\text{NSLT (tạ/ha)} = \frac{\text{Số quả chắc/cây} \times \text{Số hạt chắc/quả} \times M_{1000\text{ hạt}} \times \text{Mật độ (cây/m}^2\text{)}}{10.000}$$ NSTT được xác định bằng cách gặt toàn bộ ô khi 95% quả chín, phơi khô, đập lấy hạt, cân khối lượng thực tế và quy đổi về độ ẩm chuẩn theo đơn vị tạ/ha.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm số liệu thực nghiệm gốc được theo dõi, cân đo trực tiếp tại ruộng thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; số liệu khí tượng quan trắc địa phương vụ Xuân 2013; cùng các số liệu thống kê thứ cấp từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT, 2014), Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2014) và Cục Xúc tiến Thương mại (2013). Toàn bộ số liệu thô được tính toán bằng Microsoft Excel và xử lý thống kê sinh học trên phần mềm IRRISTAT 5.0 để so sánh phương sai, hệ số biến động ($CV%$) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 95% ($LSD_{0,05}$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài từ góc độ giá trị kinh tế, sinh học và thực trạng sản xuất nông nghiệp. Cây đậu tương có hàm lượng protein cao (35,5 - 40%), dầu béo (15 - 20%) và hơn 600 sản phẩm chế biến. Trong khi Thái Nguyên có điều kiện thuận lợi và quỹ đất đồi cạn chưa khai thác lớn, năng suất đậu tương của tỉnh chỉ đạt 14,4 tạ/ha (năm 2011), thấp hơn bình quân toàn quốc. Nguyên nhân mấu chốt được xác định là do thiếu bộ giống thích ứng, đòi hỏi phải tiến hành khảo nghiệm tuyển chọn. Phần này xác định rõ mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của đề tài đối với công tác giống cây trồng tại Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở khoa học và thực tiễn của công tác chọn tạo giống đậu tương:

  • Cơ sở khoa học và thực tiễn: Vai trò của giống trong sản xuất bền vững; việc đưa cây đậu tương vào cơ cấu cây trồng cạn nhằm chống thoái hóa, xói mòn đất đồi và tăng thu nhập cho nông dân vùng Trung du miền núi phía Bắc.
  • Tình hình sản xuất đậu tương: Phân tích số liệu toàn cầu từ FAOSTAT giai đoạn 2005 - 2012 cho thấy diện tích đậu tương thế giới tăng từ 92,56 lên 104,99 triệu ha, sản lượng đạt đỉnh 265,25 triệu tấn (năm 2010), năng suất bình quân 23 - 25 tạ/ha, tập trung chủ yếu ở Mỹ, Brazil, Argentina và Trung Quốc. Tại Việt Nam, diện tích giảm sút từ 204,10 nghìn ha (2005) xuống 120,75 nghìn ha (2012), sản lượng giảm còn 175,29 nghìn tấn; riêng Thái Nguyên giảm từ 3.600 ha (2004) xuống 1.600 ha (2011).
  • Tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế: Điểm lại thành tựu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau màu Châu Á (AVRDC), các chương trình chọn tạo giống tại Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản; phân tích các dòng giống chọn tạo tại Việt Nam qua các giai đoạn (từ V70, V74 đến các giống đột biến DT84, DT96, DT2008, AK05, ĐVN5, HL 07-15) và phân chia nhóm giống theo thời gian sinh trưởng (chín sớm 75 - 89 ngày, chín trung bình 90 - 120 ngày, chín muộn >120 ngày).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết 8 vật liệu nghiên cứu (DT84, ĐT19, E085-10, ĐT140, ĐT22, ĐT51, ĐVN14, ĐT20), địa điểm thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) 3 lần nhắc lại trên tổng diện tích 168 m². Thiết lập quy chuẩn kỹ thuật thâm canh, định mức phân bón, quy trình làm cỏ xới xáo, tưới tiêu và phòng trừ sâu bệnh. Thiết lập chi tiết phương pháp lấy mẫu và công thức tính toán các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, nốt sần rễ, tỷ lệ sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt theo tiêu chuẩn QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT cùng công cụ thống kê IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả đo đếm thực nghiệm trong vụ Xuân 2013 qua các khía cạnh nông sinh học:

  • Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng: Thời gian từ gieo đến mọc dao động từ 6 đến 9 ngày; từ gieo đến phân cành từ 30 đến 36 ngày; thời gian ra hoa từ 36 đến 47 ngày; giai đoạn chắc xanh từ 62 đến 72 ngày; và tổng thời gian sinh trưởng từ 78 đến 98 ngày. Đề tài phân loại được 4 giống thuộc nhóm chín sớm (78 - 89 ngày) gồm ĐT140, ĐVN14, ĐT19, DT84; và 4 giống thuộc nhóm chín trung bình (90 - 98 ngày) gồm ĐT22, ĐT20, E085-10, ĐT51.
  • Đặc điểm hình thái cây: Chiều cao cây dao động từ 36,6 đến 41,4 cm. Giống ĐT19 đạt chiều cao lớn nhất (41,4 cm) và đường kính thân lớn nhất (9,2 mm). Số cành cấp 1 dao động từ 1,6 đến 2,7 cành, trong đó ĐT22 phân cành nhiều nhất (2,7 cành). Số đốt thân chính đạt từ 9,7 đến 12,4 đốt.
  • Chỉ số diện tích lá và tích lũy vật chất khô: CSDTL ở thời kỳ hoa rộ đạt 2,49 - 2,88 m² lá/m² đất, tăng lên 3,24 - 3,60 m² lá/m² đất ở thời kỳ chắc xanh. Khối lượng chất khô tích lũy ở thời kỳ hoa rộ đạt 3,30 - 4,42 g/cây và tăng mạnh ở thời kỳ chắc xanh lên 7,52 - 11,79 g/cây; ĐT22 và ĐT19 là hai giống có khả năng tích lũy chất khô cao nhất (lần lượt đạt 11,79 g/cây và 11,16 g/cây).
  • Hình thành nốt sần hữu hiệu: Số lượng nốt sần hữu hiệu tại thời kỳ hoa rộ đạt từ 45,8 đến 59,7 cái/cây, khối lượng nốt sần từ 0,77 đến 1,27 g/cây. Ở thời kỳ chắc xanh, số nốt sần đạt 37,9 đến 49,7 cái/cây, khối lượng từ 0,56 đến 1,12 g/cây. Giống ĐT19 và ĐT22 vượt trội về cả số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu so với giống đối chứng DT84 ở mức xác suất tin cậy 95%.
  • Sâu bệnh hại và khả năng chống đổ: Các giống thí nghiệm bị sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) hại với tỷ lệ 5,46 - 7,86% lá hại; sâu đục quả (Etiella zinckenella) gây hại từ 4,79 đến 8,22% quả hại. ĐT19 có mức độ bị hại thấp nhất ở cả hai loại sâu (5,46% lá hại và 4,79% quả hại). Về khả năng chống đổ, 5 giống (ĐT19, E085-10, ĐT22, ĐT51, ĐT20) đạt điểm 1 (cây đứng thẳng); 3 giống còn lại đạt điểm 2.
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Đề tài ghi nhận sự biến động rõ rệt giữa các giống: số quả chắc/cây từ 28,3 đến 39,3 quả; số hạt chắc/quả từ 1,70 đến 2,25 hạt; khối lượng 1000 hạt từ 143,63 đến 173,91 g; năng suất lý thuyết từ 31,60 đến 53,57 tạ/ha; năng suất thực thu từ 18,28 đến 24,90 tạ/ha.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu nông sinh học và năng suất chính của 8 giống đậu tương khảo nghiệm trong vụ Xuân 2013:

STT Tên giống Thời gian sinh trưởng (ngày) Chiều cao cây (cm) Đường kính thân (mm) Sâu cuốn lá (% lá hại) Sâu đục quả (% quả hại) Số quả chắc/cây (quả) Khối lượng 1000 hạt (g) NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha)
1 DT84 (Đ/c) 89 36,6 6,3 7,25 7,50 28,3 159,50 31,60 19,69
2 ĐT19 88 41,4 9,2 5,46 4,79 38,5 169,56 46,30 24,46
3 E085-10 97 39,9 8,6 5,75 5,68 37,3 161,00 40,74 21,09
4 ĐT140 78 40,7 7,2 6,13 6,93 37,1 155,44 34,40 18,28
5 ĐT22 90 40,6 7,5 5,59 5,11 39,3 173,91 53,57 24,90
6 ĐT51 98 37,3 7,3 7,55 7,79 36,6 143,63 31,70 18,89
7 ĐVN14 86 39,6 6,9 6,20 6,09 38,1 164,55 43,53 22,02
8 ĐT20 93 39,6 8,1 7,86 8,22 37,9 166,47 42,63 23,40
P <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05
CV% 4,2 3,2 8,7 11,1 8,2 2,8 7,9 3,7
LSD₀.₀₅ 2,88 0,41 0,99 1,25 5,26 7,82 5,58 1,39

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về thời gian sinh trưởng (78 - 98 ngày), mức độ chống chịu sâu hại và chống đổ, xác định hai giống ĐT22 và ĐT19 vượt trội về tiềm năng năng suất. Đưa ra đề nghị tiếp tục khảo nghiệm thêm 1 - 2 vụ tiếp theo để đánh giá tính ổn định sinh học và khả năng thích ứng trước khi mở rộng sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm định lượng cụ thể:

  1. Xác định được hai giống đậu tương triển vọng nhất là ĐT22 và ĐT19, vượt trội giống đối chứng DT84 ở hầu hết các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất:
    • Giống ĐT22: Thời gian sinh trưởng 90 ngày (nhóm chín trung bình); phân cành cấp 1 đạt 2,7 cành/cây; KNTLVCK thời kỳ chắc xanh đạt cao nhất (11,79 g/cây); số nốt sần hữu hiệu chắc xanh đạt 45,3 cái/cây; số quả chắc/cây đạt cao nhất (39,3 quả); số hạt chắc/quả đạt 2,25 hạt; khối lượng 1000 hạt đạt 173,91 g; năng suất lý thuyết đạt đỉnh 53,57 tạ/ha và năng suất thực thu cao nhất thí nghiệm đạt 24,90 tạ/ha (cao hơn đối chứng DT84 đạt 19,69 tạ/ha với mức sai khác có ý nghĩa thống kê ở $P < 0,05$).
    • Giống ĐT19: Thời gian sinh trưởng 88 ngày (nhóm chín sớm); chiều cao cây đạt 41,4 cm; đường kính thân lớn nhất (9,2 mm); số lượng nốt sần hữu hiệu cao nhất ở cả hai kỳ hoa rộ (59,7 cái/cây; 1,27 g/cây) và chắc xanh (49,7 cái/cây; 1,12 g/cây); mức độ nhiễm sâu hại thấp nhất (sâu cuốn lá 5,46%, sâu đục quả 4,79%); năng suất lý thuyết đạt 46,30 tạ/ha và năng suất thực thu đạt 24,46 tạ/ha (cao hơn đối chứng DT84 với $P < 0,05$).
  2. Giống ĐT140 được xác định là giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (78 ngày), ra hoa sớm nhất (36 ngày), tuy nhiên năng suất thực thu đạt thấp nhất (18,28 tạ/ha).
  3. Đề xuất kiến nghị kỹ thuật từ tác giả: Cần tiếp tục bố trí nghiên cứu, khảo nghiệm thêm từ 1 đến 2 vụ nữa trên các chân đất khác nhau nhằm khẳng định độ ổn định về năng suất cũng như khả năng thích ứng của các giống triển vọng trước khi đưa vào cơ cấu giống đại trà của tỉnh Thái Nguyên.

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, đề tài cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh, cập nhật về phản ứng nông học của các giống đậu tương mới chọn tạo tại vùng đất cạn Thái Nguyên. Đề tài kiểm chứng khoa học khả năng thay thế giống đối chứng cũ DT84 bằng các giống mới ĐT22 và ĐT19 có năng suất thực thu cao hơn từ 24,2% đến 26,5%, góp phần giải bài toán nâng cao năng suất đậu tương cho vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân 2013) tại một tiểu vùng sinh thái (Khu trồng cạn - Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), do đó chưa phản ánh được sự biến động tương tác giữa kiểu gen và môi trường qua nhiều mùa vụ hoặc các vụ khác trong năm (như vụ Hè hay vụ Đông).
  • Trong giai đoạn chín và thu hoạch (tháng 6/2013), điều kiện thời tiết tại địa bàn có lượng mưa tương đối lớn (đạt 256,7 mm), gây khó khăn cho việc thu hoạch, phơi sấy và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hạt cũng như hao hụt năng suất thực thu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất là:

  • Tiếp tục khảo nghiệm các giống có triển vọng (đặc biệt là ĐT22, ĐT19, ĐVN14 và ĐT20) thêm từ 1 đến 2 vụ gieo trồng kế tiếp.
  • Mở rộng phạm vi đánh giá trên các loại chân đất và tiểu vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của tỉnh Thái Nguyên để xác định độ thích nghi rộng và xây dựng quy trình thâm canh tối ưu cho từng giống.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Chọn giống cây trồng và Khuyến nông tại các trường đại học nông lâm.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trong công tác quy hoạch, thử nghiệm và cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân tại các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến quy trình khảo nghiệm giống đậu tương theo tiêu chuẩn QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT, đặc biệt là phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) và phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh lý định lượng như chỉ số diện tích lá (CSDTL), khả năng tích lũy vật chất khô và phương pháp định lượng nốt sần rễ hữu hiệu.

Nội dung đáng tham khảo nhất của tài liệu là hệ số liệu chi tiết tại Bảng 4.3 (chỉ số diện tích lá và tích lũy vật chất khô), Bảng 4.4 (khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu) và Bảng 4.6 (các yếu tố cấu thành năng suất và phân tích phương sai LSD), cung cấp cơ sở đối sánh trực quan giữa các giống mới của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam với giống chuẩn quốc gia DT84.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo nghiệm bao nhiêu giống đậu tương và những giống nào đạt năng suất cao nhất? Thí nghiệm khảo nghiệm 08 giống đậu tương gồm: DT84 (đối chứng), ĐT19, E085-10, ĐT140, ĐT22, ĐT51, ĐVN14 và ĐT20. Hai giống đạt năng suất thực thu cao nhất là ĐT22 đạt 24,90 tạ/ha và ĐT19 đạt 24,46 tạ/ha, cao hơn rõ rệt so với giống đối chứng DT84 (đạt 19,69 tạ/ha) ở mức ý nghĩa $P < 0,05$.

2. Tiêu chí nào được tác giả sử dụng để xác định nốt sần hữu hiệu trên rễ đậu tương? Theo phương pháp mô tả trong khóa luận, nốt sần hữu hiệu là những nốt sần phân bố chủ yếu trên rễ chính và rễ ngang to, có đường kính đạt $\ge 2,5\text{ mm}$ và khi cắt ra bên trong có dịch màu hồng của sắc tố leghaemoglobin (thể hiện enzyme nitrogenase đang hoạt động cố định đạm). Những nốt sần nhỏ hơn hoặc bên trong chuyển sang màu nâu/nâu nhạt được xem là nốt sần già cỗi hoặc vô hiệu.

3. Giống đậu tương nào có thời gian sinh trưởng ngắn nhất và dài nhất trong thí nghiệm? Giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là ĐT140 với 78 ngày (ra hoa sau 36 ngày, chắc xanh sau 62 ngày), thuộc nhóm chín sớm. Giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là ĐT51 với 98 ngày (chín sau giống đối chứng 9 ngày), thuộc nhóm chín trung bình.

4. Mức độ gây hại của sâu cuốn lá và sâu đục quả trên các giống khảo nghiệm diễn ra như thế nào? Tất cả các giống đều bị hai loài sâu này gây hại: tỷ lệ hại của sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) dao động từ 5,46% đến 7,86% lá hại; sâu đục quả (Etiella zinckenella) dao động từ 4,79% đến 8,22% quả hại. Trong đó, giống ĐT19 có khả năng chống chịu tốt nhất với tỷ lệ hại thấp nhất ở cả hai loài (5,46% lá bị sâu cuốn lá và 4,79% quả bị sâu đục quả).

5. Công thức phân bón chuẩn được tác giả áp dụng trong thí nghiệm là gì? Quy trình kỹ thuật của thí nghiệm áp dụng lượng phân bón cho 1 ha gồm: 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 60 kg $P_2O_5$ + 30 kg $K_2O$ + 500 kg vôi bột. Toàn bộ phân chuồng, lân, vôi cùng 50% N và 50% K được dùng để bón lót; 50% N và 50% K còn lại được bón thúc vào giai đoạn cây có 2 - 3 lá thật kết hợp làm cỏ xới xáo.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Tum đã thực hiện đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, tính chống chịu và năng suất của 8 giống đậu tương trong vụ Xuân 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo quy chuẩn QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT. Kết quả nghiên cứu khẳng định hai giống ĐT22 và ĐT19 sở hữu nhiều đặc tính nông học ưu việt, khả năng hình thành nốt sần cố định đạm tốt, khả năng chống đổ và kháng sâu hại cao, đạt năng suất thực thu từ 24,46 đến 24,90 tạ/ha (vượt trội so với giống đối chứng DT84 đạt 19,69 tạ/ha). Đây là công trình thực nghiệm có độ tin cậy khoa học cao, cung cấp căn cứ xác đáng cho định hướng tiếp tục khảo nghiệm và hoàn thiện cơ cấu giống đậu tương năng suất cao tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.