Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycine max (L) merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [6]. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao: Hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5 - 40%, lipit từ 15 - 20% gồm cả 2 loại axit béo no và không no, hidratcacbon 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống.
Trong hạt đậu tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các axit amin không thể thay thế cần thiết cho cơ thể con người như: Triptophan, leuxin, valin, lizin, methiomin. Ngoài ra còn có các muối khoáng như: Ca, Fe, Mg, Na, P, K… các vitamin B1, B2, D, K, E… Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là lizin và triptophan rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và sức đề kháng của cơ thể (Cây đậu tương khỏe - 24 thông tin hoạt chất) [26]. Đậu tương là loại hạt mà giá trị dinh dưỡng của nó được đánh giá đồng thời cả về protein và lipit, từ hạt đậu tương người ta chế biến được trên 600 loại thực phẩm khác nhau. Hạt đậu tương ngoài làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc còn được làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in, xà ph5òng, chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không (Phạm Văn Thiều, 2006) [15].
Trong y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnh giúp tránh hiện tượng suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp (Cây đậu tương khỏe - 24 thông tin hoạt chất) [26]. n 2 Ở Việt Nam, đậu tương là cây trồng quan trọng, là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao, không những thế cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất tăng năng suất của các cây trồng khác. Chính vì vậy, phát triển đậu tương là một trong 10 chương trình ưu tiên ở nước ta. Cây đậu tương là một trong những mũi nhọn chiến lược kinh tế trong việc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới.
Định hướng sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian tới là không thiên về tăng diện tích trồng trọt mà thiên về xu hướng tăng năng suất cây trồng trên đơn vị diện tích để tăng sản lượng. Trong đó giống là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc có diện tích đậu tương lớn của vùng, xấp xỉ 2000 ha/năm, nhưng năng suất còn thấp đạt 14,4 tạ/ha, trong khi năng suất bình quân của nước ta đạt xấp xỉ 15,0 tạ/ha và thế giới đạt 23,3 tạ/ha (FAOSTAT, 2014) [21].
Nguyên nhân là chúng ta chưa có bộ giống tốt và biện pháp kĩ thuật thâm canh phù hợp cho giống. Do vậy cần phải nhanh chóng đưa các giống mới năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất đại trà. Tuy nhiên, trước khi đưa vào sản xuất, các giống này cần được nghiên cứu, thử nghiệm để chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và công tác nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương có triển vọng trong vụ Xuân 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Nhằm chọn được những giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên để bổ sung giống đậu tương tốt vào cơ cấu giống của tỉnh. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được giống đậu tương tốt, cho năng suất cao phù hợp với điều kiện vụ Xuân của Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Trong học tập và nghiên cứu - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên.
- Giúp sinh viên nắm được các bước để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học, phương pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được giống đậu tương có triển vọng phù hợp với điều kiện của Thái Nguyên là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo. Trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được giống tốt, năng suất cao, phù hợp với vụ Xuân tại Thái Nguyên từ đó khuyến cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, kĩ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lí, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu đất đai, kinh tế xã hội.
Để có những giống có năng suất cao, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp.
Do đó, việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng n 5 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Trong cơ cấu cây trồng, cây đậu tương xuất hiện sớm nhưng chỉ phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc.
Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương, Châu Á tuy là nơi nguyên sản của cây đậu tương nhưng nó lại được trồng tập trung ở Châu Mỹ với 70,03%. Châu Á chỉ có 23,5%, còn lại ở các châu lục khác. Cây đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô. Vì vậy, sản xuất đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 92,56 23,18 214,55 2006 95,31 23,29 221,96 2007 90,15 24,37 219,72 2008 96,45 23,98 231,26 2009 99,32 22,49 223,40 2010 102,61 25,85 265,25 2011 103,60 25,32 262,35 2012 104,99 23,03 241,84 (Nguồn: FAOSTAT, 2014) [21] Qua bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên, dao động từ 92,56 - 104,99 triệu ha. Giai đoạn 2005 - 2012, trong vòng 8 năm diện tích trồng đậu tương tăng 12,43 triệu ha, tăng 13,43% so với năm 2005. Năm 2012 diện tích trồng đậu tương của thế giới đạt cao nhất là 104,99 triệu ha.
Qua số liệu trên cho thấy diện tích trồng đậu tương ngày càng tăng lên. n 6 Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây tương đối ổn định, dao động từ 22,492 tạ/ha đến 25,849 tạ/ha. Năm 2010 năng suất đậu tương đạt cao nhất là 25,849 tạ/ha và thấp nhất là năm 2009 đạt 22,492 tạ/ha. Về sản lượng: Sản lượng đậu tương trong những năm gần đây có những biến động nhỏ.
Trong vòng 6 năm từ năm 2005 - 2010 sản lượng đậu tương tăng 50,7 triệu tấn, tương đương với 23,63%. Năm 2010, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 265,25 triệu tấn và đến năm 2012 sản lượng đậu tương giảm 23,41 triệu tấn, tương đương với 8,83%. Sở dĩ, trong những năm từ năm 2005 đến năm 2010 sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất. Nhưng đến năm 2011và 2012 sản lượng đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương vẫn tăng là do thời tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán.
Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thế giới sẽ chậm hơn so với các năm trước.