Đặt vấn đề Cây chè (Camellia sinensis (L) O.Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm, nhiệm kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Chè có giá trị dinh dưỡng cao, nước chè là thứ nước uống giải khát khá phổ biến của 2/3 dân số toàn thế giới (Đặng Hanh Khôi, 1983) [4].Cây chè và sản phẩm chè từ lâu đời đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm nước ta. Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển.Sản xuất chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Khối lượng xuất khẩu chè năm 2016 đạt 131 nghìn tấn, kim ngạch 217 triệu USD, tăng 5,1% về khối lượng và tăng 2,1% về giá trị so với năm 2015 (http://www.
Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ. Theo thông tin Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), với định hướng diện tích chè cả nước ổn định khoảng 140 nghìn ha, trồng mới và trồng thay thế hàng năm chủ yếu bằng các giống chè năng suất, chất lượng cao, trong đó cơ cấu giống chè chất lượng khá và chất lượng cao chiếm trên 50 % diện tích, sản xuất chè theo hướng an toàn. Tại Thái Nguyên, định hướng của tỉnh đến 2020 diện tích sản xuất chè là 22.000 ha, năng suất khoảng 12 tấn/ha, tăng tỷ lệ giống mới sản c 2 xuất chè xanh cao cấp chiếm 80% diện tích, mở rộng diện tích áp dụng VietGAP, GlobalGAP (http://www.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm.Giống được coi là tiền đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp.Ở tất cả các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè mới phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất. Hiện nay, giống chè ở nước ta rất đa dạng và phong phú, gồm những giống mới lai tạo trong nước và cả những giống chè nhập nội. Mỗi giống chè sinh trưởng tốt trong những điều kiện sinh thái nhất định, mang những đặc điểm thích hợp với mục đích sản xuất sản phẩm chè khác nhau (chè xanh, chè đen, chè Ôlong, matcha. ) và mang những ưu điểm riêng là vật liệu cho công tác chọn tạo giống.
Nhưng ưu – nhược điểm của các giống chè trồng tại một điều kiện sinh thái cụ thể chưa được làm rõ vì vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống chè là rất cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, nhằm đánh giá đặc điểm của các giống chè nhập nội, từ những kết quả đánh giá có thể bảo tồn các nguồn gen quý nhằm duy trì đa dạng sinh học, hỗ trợ quá trình lai - chọn tạo giống thông qua chọn lựa các cặp bố mẹ trong các phép lai để thu được ưu thế lai cao nhất và tạo tiền đề cho việc lựa chọn giống chè phù hợp với điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của một số giống chè tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá được đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng của một số giống chè trong mô hình tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, kết quả nghiên cứu là cơ sở cho công tác chọn tạo giống, phục vụ nghiên cứu khoa học. Yêu cầu của đề tài Mô tả một số đặc điểm hình thái của các giống chè nghiên cứu. Xác định khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất của một số giống chè trong thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế.
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu. Có kết luận sơ bộ về khả năng sinh trưởng của một số giống chè. Theo đó đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho người trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống chè làm cơ sở cho việc đánh giá vật liệu phục vụ cho công tác bảo tồn giống và chọn tạo giống.
c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis (L) O.Kuntze và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L (Nguyễn Ngọc Kính,1979) [5]. Là loài cây mà lá và búp của chúng được sử dụng để sản xuất sản phẩm chè.Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và Thea viridis. Chè là một thức uống lý tưởng có nhiều giá trị về dược liệu.Ngày nay, chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca cao.
Ngoài ra, cây chè là cây công nghiệp lâu năm cho giá trị kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm. Do đó, chè là một trong những cây trồng được quan tâm và phát triển mạnh đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi. Nghiên cứu đặc trưng hình thái, đặc điểm sinh trưởng là một nội dung rất cơ bản và cần thiết khi nghiên cứu cây trồng. Sự liên quan giữa sinh trưởng, phát triển, sự tăng lên về thể tích, chiều cao, chiều rộng của cây qua các biểu hiện về hình thái: Màu sắc, độ lớn, góc phân cành, diện tích lá.
đều có mối liên hệ với năng suất, chất lượng cây trồng (Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2002) [1]. Đặc điểm sinh vật học của cây chè * Thân chè Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, thân thẳng, phân nhánh liên tục tạo thành hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây. Tùy theo chiều cao phân cành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia làm 3 loại: Thân bụi, thân gỗ nhỏ và thân gỗ. c 5 - Thân bụi: Cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ.
Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, điển hình là các thứ chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Nhật Bản. - Thân gỗ nhỏ (thân bán gỗ): Cây chè có thân chính tương đối rõ, vị trí phân cành thường cách mặt đất từ 20 - 30 cm. Điển hình là chè Trung Quốc lá to và chè Trung du. - Thân gỗ: Là loại hình cây cao, to, có thân hình rõ rệt, vị trí phân cành cao.
Điển hình là các thứ chè Ấn Độ và chè Shan. * Cành Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Trên cành chia ra nhiều đốt, chiều dài đốt cành biến động từ 1 – 10 cm tùy theo giống, điều kiện sinh trưởng. Đốt cành chè dài là một trong những biểu hiện của giống chè có khả năng cho năng suất cao.
Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia ra các cấp cành: Cành cấp 1, cấp 2, cấp 3, hoạt động của các cấp cành trên tán rất khác nhau. Những cành chè ở giữa tán thì có sức sinh trưởng mạnh hơn những cành chè ở rìa tán.Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè. Với lượng cành chè thích hợp và cân đối trên tán chè, cây chè sẽ cho năng suất cao, vượt qua giới hạn đó năng suất chè không tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe. * Mầm Trên cây chè có 2 loại mầm: Mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực.
Mầm dinh dưỡng là mầm từ đó phát triển thành cành và lá chè, mầm dinh dưỡng lại được chia thành mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ và mầm bất định.Mầm sinh thực là mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè.Mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng cùng nằm ở nách lá chè.Mầm sinh thực ở hai bên, mầm dinh dưỡng ở giữa vì thế quá trình sinh trưởng của hai loại mầm này thường mâu thuẫn c 6 nhau.Khi mầm dinh dưỡng phát triển mạnh thì mầm sinh thực phát triển yếu đi và ngược lại. * Lá chè Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có 1 lá, lá chè thường thay đổi về hình dạng, màu sắc, kích thước tùy theo giống, điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác. Trên cành chè có các loại lá sau: Lá vảy ốc, lá cá, lá thật. Lá chè là loại lá đơn, nguyên, có hệ gân lá rất rõ.
Nhưng gân chính của lá chè không mọc ra tận mép lá, mà nối với nhau thành mạng, rìa lá có hình dạng răng cưa. Đầu lá, màu sắc lá, số đôi gân chính, hình dạng lá là các chỉ tiêu để phân loại giống. Những giống chè có mặt lá ghồ ghề, mỏng, màu xanh sáng thường có khả năng cho năng suất cao. Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá xiên và thế lá úp.
Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè năng suất cao.Lá chè có tuổi thọ trung bình là 1 năm. * Búp chè Búp chè là giai đoạn non của một cành chè, được hình thành từ các mầm dinh dưỡng.Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội tại. Kích thước búp chè thay đổi tùy theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu), được chia làm 2 loại búp bình thường và búp mù. Búp bình thường là búp gồm 1 tôm và 2 hay 3 lá thật non.
Búp chè càng non phẩm chất chè khô càng tốt. Búp mù xòe là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2 – 3 lá non. Khối lượng búp mù xòe chỉ bằng ½ búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao thì chất lượng chè khô càng kém.