Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở khoa học về lai giống 1. Tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn sự sai khác về chủng loại, đó là bản chất của tính trạng đa gen (polygene), tính trạng số lượng bị tác động rất lớn bởi các nhân tố môi trường.
Sự khác nhau này là nguồn vật liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo. Tính trạng số lượng có các đặc trưng đó là những tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen, mỗi gen chỉ có một tác động nhỏ và có hiệu ứng nhỏ nhất định (minorgen); Tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường; Có thể xác định số lượng bằng phép đo; Các giá trị quan sát được của các tính trạng số lượng là các biến thiên liên tục. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật. Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi nhân tố ngoại cảnh.
Hiện tượng di truyền liên quan đến tính trạng số lượng đó là sự giống nhau giữa các con vật có quan hệ họ hàng là cơ sở của sự chọn lọc, hiện tượng suy hoá cận huyết và ngược lại là ưu thế lai đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân giống thuần hoặc lai tạo. Cho đến nay di truyền học số lượng đã được nhiều nhà di truyền học thống kê bổ sung, nâng cao và được ứng dụng rộng rãi vào việc cải tiến di truyền các giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng Giá trị kiểu hình được biểu thị như sau: P = G + E Trong đó: P là giá trị kiểu hình; G là giá trị kiểu gen; E là Sai lệch môi trường.
Kiểu hình do các gen chi phối thuộc ít nhất 2 locus trở lên được biểu thị: P= A +D +I + Eg + Es Trong đó: A là giá trị cộng gộp; D là giá trị sai lệch trội; I là sai lệch tương tác (át gen); Eg: sai lệch môi trường chung; Es: sai lệch môi trường riêng. Như vậy, muốn cải tiến năng suất của vật nuôi có thể tác động: về mặt di truyền (G), vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc, tác động vào hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống và tác động vào môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như chế độ dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc, quản lý, thú y. Hệ số di truyền Giá trị của hệ số di truyền cho ta một khái niệm về mức tiến triển có thể đạt được khi tiến hành chọn lọc đối với một tính trạng nhất định. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp hiệu quả chọn lọc sẽ thấp, hiệu quả lai giống lại cao; ngược lại những tính trạng có hệ số di truyền cao thì có hiệu quả chọn lọc cao song hiệu quả lai giống thấp (Phan Cự Nhân và cs, 1985).
Cơ sở của sự lai tạo giống và ưu thế lai Lai giống Lai giống là cho giao phối những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, nhưng hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự như nhau (Lasley, 1974). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc.
Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định. Ưu thế lai Ưu thế lai là hiện tượng con lai có các đặc điểm vượt trội hơn cha mẹ về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản, về tính chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường và khả năng sử dụng chất dinh dưỡng. Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993). Bản chất hiện tượng ưu thế lai được Nguyễn Văn Thiện (1995) giải thích bởi ba thuyết đó là thuyết trội, thuyết siêu trội và tương tác gen.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai: - Công thức lai Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai. Theo Trần Đình Miên và cs (1994) mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể. Theo Trần Kim Anh (2000) thì ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con. Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa.
Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai. Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5-10 %, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10-15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg, ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998). - Tính trạng Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, các tính trạng khác nhau thì có mức độ di truyền khác nhau. Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất.
Các tính trạng này có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau, số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%, số con cai sữa có ưu thế lai của mẹ là 11%, khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%, ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000). - Sự khác biệt giữa bố và mẹ Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác xa nhau về di truyền thì ưu thế lai thu được càng lớn. Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần.
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao. Như vậy, ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh. Đặc điểm sinh lý sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái 1. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái * Chu kỳ động dục của lợn cái: Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, cứ sau một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt, kèm theo sự rụng trứng và động dục, hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần gọi là chu kỳ động dục, chu kỳ động dục của lợn cái trung bình 21 ngày (18 - 21 ngày).
* Tuổi động dục đầu tiên: Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên. Tuổi động dục lần đầu khác nhau tuỳ theo giống. Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội thuần. Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa.
* Tuổi phối giống lần đầu: Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa phối giống, vì ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số trứng rụng còn ít. Người ta thường cho phối giống vào lần động dục thứ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hai hoặc ba. Tuổi phối giống lần đầu của lợn thường được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu. Thường phối giống vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối giống từ lần động dục đầu tiên.
Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg và lợn ngoại phối giống vào lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80kg. * Tuổi đẻ lứa đầu: Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên. Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu. * Lợn nái động dục trở lại sau đẻ: Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại.
Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao. Đối với lợn sau cai sữa từ 3 - 7 ngày thường động dục trở lại. * Đặc điểm động dục của lợn cái: Sự lớn nhanh và phát triển mạnh của cơ quan sinh dục của lợn cái, đặc biệt là buồng trứng và tử cung, xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5 tháng với lợn nội. Cùng với sự phát triển của cơ quan sinh dục, quá trình rụng trứng cũng được tăng dần theo độ tuổi, số lượng trứng rụng qua mỗi giai đoạn khác nhau.
Ở lợn cái, khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên, khi ở giai đoạn hậu bị trung bình rụng từ 8 - 14 trứng và số trứng rụng cao nhất ở giai đoạn lợn nái cơ bản là 12 - 20 trứng. Số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào giống và tuổi.