Đặt vấn đề Trong chăn nuôi gia cầm hiện nay thì tình trạng bệnh đường hô hấp, tiêu hóa là một vấn đề nan giải và chiếm tỷ lệ cao. Trong đó, bệnh do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) và vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) là một trong những nguyên nhân làm thiệt hại kinh tế đáng kể, tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất, tăng tỷ lệ loại thải. Hầu hết các chủng ORT có sự đề kháng kháng sinh, vì vậy việc điều trị gặp nhiều khó khăn.
coli kháng thuốc ngày càng nhiều đặc biệt là vi khuẩn E. coli sinh beta- lactamase dẫn tới đề kháng rất cao với kháng sinh nhóm beta-lactam Hiện nay, người ta sử dụng thảo dược thay thế kháng sinh trong chăn nuôi nhằm hạn chế sự phát triển vi khuẩn đề kháng kháng sinh, và kháng sinh tồn dư trong các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng. gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Trong đó, các chiết xuất từ tỏi, diệp hạ châu ngày càng được quan tâm trong việc sử dụng phòng và điều trị bệnh trên động vật.
Đối với tỏi, thành phần allicin trong tỏi có tác dụng diệt khuẩn, kích thích tiêu hóa, các hợp chất sulfur và polyphenol có hoạt tính sinh học cao. Tỏi làm chuyển hóa trao đổi chất, tăng trọng, nâng cao sức đề kháng, tạo ra thịt sạch, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tỏi giúp tăng cường năng suất của gà đẻ và cải thiện chất lượng trứng khi được bổ sung trong thức ăn. Diệp hạ châu có tác dụng bảo vệ và hỗ trợ hoạt động của gan, kích thích miễn dịch, kháng khuẩn.
Do đó việc sử dụng các thảo dược có hoạt tính kháng khuẩn để phòng và điều trị bệnh trên vật nuôi đang được quan tâm và nghiên cứu ứng dụng trong thưc tiễn. Đặc điểm Tỏi có tên khoa học là Allium sativum, thuộc họ hành (Alliaceae). Tỏi là cây thân thảo sống hàng năm, cao từ 30 – 40cm. Thân ngắn hình tháp gồm nhiều ánh tỏi to nhỏ không đều xếp ép vào nhau quanh một trục lõi, vỏ ngoài mỏng có màu trắng hoặc hơi vàng.
Lá cứng, hình dải, thẳng dài 15-50cm, rộng 1-2,5cm, có rãnh khía, mép lá hơi ráp. Hoa tỏi xếp thành tán ở ngọn thân trên, cánh hoa mọc trực tiếp từ củ tỏi. Ở mỗi nách lá phía gốc có một chồi nhỏ sau này phát triển thành một tép tỏi. Các tép này nằm chung trong một cái bao thành một củ tỏi.
Củ tỏi nằm phía dưới mặt đất (Bùi Thị Tho, Nguyễn Thị Thanh Hà, 2009) Tỏi ưa khí hậu mát với nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển là 18-20°C. Tỏi cần nhiều nước, nếu thiếu nước cây còi cọc và củ nhỏ. Tỏi có vị cay, tính ấm, có tác dụng giải cảm, giải độc, tiêu đờm, lợi tiểu, hạ khí, trừ giun và thông quan (Đỗ Huy Bích và cs, 2006). Nguồn gốc tỏi từ Trung Á và ngày nay đã phổ biến trên toàn thế giới có từ vùng nhiệt đới xích đạo đến cả hai bán cầu.
Ở Việt Nam tỏi được trồng nhiều khắp các địa phương từ nam ra bắc. Có hai nhóm tỏi củ to và tỏi củ nhỏ, được trồng từ tháng 1-2 và thu hoạch tháng 5 - 6. Thành phần hóa học của tỏi Trong 100g tỏi có chứa 62,8% nước, 6,3% protein, 0,1% chất béo, 29% hydrat carbon, 0,03mg calcium, 0,31mg P, 1,3mg sắt, 13mg vitamin C (Đỗ Huy Bích và cs, 2006). Theo Đỗ Tất Lợi (2004), trong tỏi có ít iod và tinh dầu (100kg tỏi chứa 60-200g tinh dầu).
Thành phần chủ yếu của tỏi là allicin một hợp chất sufur có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh. Trong tỏi không có chất allicin ngay mà có chất aliin, một loại acid amin. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của men anilaza, chất allin có sẳn trong tỏi biến thành allicin. Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính càng cao.
Allicin tinh khiết là chất dầu không màu, hòa tan trong cồn, benzen, ether. Tính tan trong nước không ổn định, dễ bị thủy phân trong môi trường kiềm, trong môi trường acid nhẹ ít bị ảnh hưởng (Bùi Thị Tho và cs, 2009) Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 đến 2 gam allicin. Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra. Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính.
Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất này. Đun qua lò vi sóng sẽ phá huỷ hoàn toàn chất 3 allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loãng 125,000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi khuẩn Gram âm và Gram dương (Bùi Thị Tho và cs, 2009).
Tác dụng của tỏi Dịch ép tỏi sống có tác dụng cao chống lại E. coli, Pseudomonas, Salmonella, Candida, Klebsiella, Micrococcus, Bacillus subtilis và Staphylococcus aureus (Issa et al, 2012). Tỏi giúp tăng cường năng suất của gà đẻ và cải thiện chất lượng trứng khi được bổ sung trong thức ăn (Lim và ctv, 2006; Yalcin và ctv, 2006; Khan và ctv, 2007). Allicin có thể làm giảm mức cholesterol trong huyết thanh, triglyceride và LDL (Adler và Holub, 1997).
Về cơ chế hoạt động, nó làm giảm cholesterol toàn phần, ức chế tổng hợp acid béo, ức chế kết tập tiểu cầu và ngăn ngừa huyết khối trên người. Allicin cũng được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa bệnh tim mạch trên người (Tanamai và ctv, 2004). Trên gà, nhiều nghiên cứu cho thấy sau khi cho gà ăn tỏi thì hàm lượng cholesterol trong máu cũng giảm (Koch and Lawson, 2000). Cùng với tác dụng làm giảm cholesterol trong máu này là sự ức chế đáng kể các enzyme liên quan đến việc sinh tổng hợp cholesterol trong gan.
Các chứng minh này về vai trò của tỏi đối với việc làm giảm tích tụ cholesterol, tăng đáp ứng miễn dịch thông qua các kênh protein và số lượng bạch cầu trong máu (Ari et al. Trong thú y, tỏi được dùng thành công trong chữa trị nhiễm giun. Chẳng hạn, một chế phẩm bột tỏi và dầu tỏi mới đã được dùng để điều trị nhiễm giun chỉ ở chó bằng cách trộn vào thức ăn (0,1 – 0,2%) sau 3 – 4 tháng điều trị thì không thấy còn ấu trùng giun chỉ trong máu (Lâm Minh Thuận, 2012). Diệp hạ châu đắng 1.
Đặc điểm Diệp hạ châu đắng có tên khoa học Phyllanthus amarus thuộc họ 4 Euphorbiaceae, chi Phyllanthus, tên địa phương là cây chó đẻ răng cưa hay chó đẻ thân xanh (Đỗ Huy Bích, 2006). Là cây thân thảo, cao 50-70cm. Thân nhẵn, ít phân cành, màu lục. Lá mọc so le, xếp hai dãy đều trên cành như một lá kép hình lông chim, gốc lá tròn, đầu tù hơi nhọn, hai mặt lá nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới mông mốc.
Hoa đơn tính, mọc ở kẽ lá, không có cánh hoa, màu lục nhạt; hoa đực có cuống ngắn, xếp ở dưới hoa cái; hoa cái có cuống dài. Quả nang, hình cầu, nhẵn, hơi dẹt, chia làm 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có 2 van chứa 2 hạt; hạt hình tam giác, đường kính 1mm, có cạnh dọc và vằn ngang (Dược điển Việt Nam IV, 2009). Diệp hạ châu là cây ưa sáng, ưa ẩm nhưng không chịu được ngập úng. Cây diệp hạ châu thích hợp với nhiều loại đất.
Đất trồng tốt nhất là đất tơi xốp, nhiều mùn và giàu dinh dưỡng, đủ ẩm và thoát nước tốt. Độ pH thích hợp là từ 5-6,5, cây diệp hạ châu không ưa đất quá chua hoặc quá kiềm. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 25-30οC. Cây có vị đắng ngọt, tính mát.
Bộ phận lá chứa nhiều hoạt chất nhất có tác dụng làm thuốc. Diệp hạ châu có tác dụng bảo vệ gan cho những người uống nhiều bia rượu, làm giảm nguy cơ nhiễm độc gan, men gan tăng (GACP-WHO, 2020). Ở Việt Nam, diệp hạ châu mọc hoang rải rác khắp các bụi cỏ, ven đường và ruộng vườn. Người ta thu hái toàn cây quanh năm, tốt nhất vào mùa hè và thu, cây được rửa sạch đất cát, cắt khúc ngắn, dùng tươi hoặc phơi khô trong chỗ râm mát để dùng hoặc lấy lá ép thành bánh (Dược điển Việt Nam IV, 2009).
Theo quyết định của Bộ Y Tế, 2015, diệp hạ châu đắng là loại dược liệu được ưu tiên phát triển và bảo tồn. Diệp hạ châu được quy hoạch trồng quy mô lớn ở nhiều khu vực tại Việt Nam như vùng Đồng bằng sông Hồng các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nam Định và Thái Bình. Vùng Bắc Trung Bộ các tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa được ưu tiên khai thác phát triển trồng cây diệp hạ châu đắng. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ 5 các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Diệp hạ châu đắng 1. Thành phần hóa học Hàm lượng các dược chất trong diệp hạ châu tự nhiên khá thấp, lá khô chứa các chất hypophyllathin (0,05 %), phyllanthin (0,35 %) (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Trong số các hợp chất trên, những hoạt chất ở trong nhóm lignan được cho là tạo nên các đặc tính dược lý quan trọng của cây diệp hạ châu đắng, chất tiêu biểu cho tác dụng bảo vệ gan (Khatoon và ctv, 2006). Niranthin có tác dụng ức chế rất tốt đối với kháng nguyên bề mặt (HBsAg) của virus viêm gan B (HBV).
Physanthin và hypophylanthin là những hợp chất hiện diện trong các cây thuộc chi Phylanthus có tác dụng tăng loại thải uric acid trong máu (Murugaiyaha và ctv, 2009) cũng như bảo vệ gan giảm ảnh hưởng của các chất độc như carbon tetrachloride (CC14) hay ethanol (Syamasundar và ctv, 1985). Ngoài tác dụng trên niranthin cũng có tác dụng kháng viêm và giảm đau rất tốt (Kassuya và ctv, 2006). Thành phần hóa học của diệp hạ châu Nhóm Hợp chất Phyllanthin, hypophyllanthin, phyltetralin, Lignan nirtetralin, niranthin. Phyllanthusiin D, amariinic acid, elaeocarpusin, Ellagitannin repandusinic acid A, geraniinic acid B.
Flavonoid quercetin-3-O-glucoside. Geraniin, amariin, gallocatechin, corilagin, 1,6- Tannin digalloyglucopyranoside. Phyllanthine (=methoxy-securinine), securinine, Alkaloid của quinolizidine norsecurinine, isobubbialine, epibubbialine. Gallic acid, ellagic acid, dotriacontanyl Hợp chất phenol docosanoate, triacontanol, oleanolic acid, ursolic acid.
Dẫn xuất chroman 4,4,8-Trimethoxy chroman. Tác dụng diệp hạ châu Gan được coi là nhà máy giải độc của cơ thể, bảo vệ cơ thể bằng chất chống oxy hóa chính của gan là glutathionine và một số ezyme trung hòa chất độc (Meyer và Kulkarni, 2001). Nên khi lượng chất độc bị tích tụ trong cơ thể quá nhiều làm cho tế bào gan bị tổn thương, dẫn đến viêm gan cấp tính. Dấu hiệu để nhận biết là nồng độ các enzym của gan tăng cao trong huyết tương.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh diệp hạ châu có khả năng bảo vệ tế bào gan trước nhiều tác nhân gây độc như ethanol (Pramyothin và ctv, 2007), paracetamol (Udomuksorn và ctv, 2000), galactosamine (Syamasundar và ctv, 1985; Kongstan, 2000).