Nghiên cứu tổng hợp và khả năng hấp phụ asen của vật liệu graphen oxit và graphen

Nghiên cứu tổng hợp đặc trưng và khả năng hấp phụ asen của vật liệu trên cơ sở các bon graphen oxit graphen trong luận văn thạc sĩ HUS.

Chuyên ngành

Hóa Vô Cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2015

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về vật liệu Cacbon

1.2. Ống nano cacbon

1.3. Tổng quan về graphen

1.4. Phân loại graphen

1.5. Tính chất của graphen

1.6. Các phương pháp tổng hợp graphen

1.6.1. Phương pháp tách lớp vi cơ học

1.6.2. Phương pháp epitaxy

1.6.3. Phương pháp hóa học

1.7. Ứng dụng của graphen

1.8. Vật liệu composit giữa Graphen oxit, Graphen với Fe3O4

1.9. Tổng quan về Asen và phương pháp xử lý Asen

1.9.1. Giới thiệu về Asen

1.9.2. Một số phương pháp xử lý ô nhiễm asen

1.9.2.1. Phương pháp kết tủa, lắng/lọc
1.9.2.2. Phương pháp hấp phụ và trao đổi ion
1.9.2.2.1. Các phương pháp vật lý
1.9.2.2.2. Phương pháp sử dụng thực vật (phytoremediation)

1.10. Lý thuyết về hấp phụ

1.10.1. Hiện tượng hấp phụ

1.10.2. Phân loại các dạng hấp phụ

1.10.2.1. Hấp phụ vật lý
1.10.2.2. Hấp phụ hoá học

1.10.3. Sự hấp phụ trong môi trường nước

1.10.4. Một số mô hình đẳng nhiệt hấp phụ

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Tổng hợp graphit oxit từ graphit

2.2. Tổng hợp graphen oxit (GO)

2.2.1. Phương pháp cơ học (siêu âm)

2.2.2. Phương pháp vi sóng

2.3. Tổng hợp graphen

2.3.1. Tổng hợp graphen bằng phương pháp khử hóa học

2.3.2. Tổng hợp graphen bằng phương pháp khử nhiệt

2.4. Tổng hợp hạt nano composit Fe3O4 – GO

2.5. Chuẩn bị dung dịch As(V)

2.6. Thí nghiệm hấp phụ As(V)

2.7. Các phương pháp nghiên cứu

2.7.1. Phương pháp phổ nhiễu xạ tia X (XRD)

2.7.2. Phổ tán xạ tia X (EDX)

2.7.3. Phương pháp quang phổ hồng ngoại (IR)

2.7.4. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)

2.7.5. Phương pháp hiển vi truyền điện tử phân giải cao (HR TEM)

2.7.6. Phương pháp đẳng nhiệt hấp phụ- khử hấp phụ N2 (BET)

2.7.7. Phương pháp hấp phụ nguyên tử (AAS)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát ảnh hưởng các yếu tố đến quá trình tổng hợp GO và Graphen (G)

3.1.1. Khảo sát ảnh hưởng của nguyên liệu đầu

3.1.2. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ KMnO4/ Graphit

3.1.3. Khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ

3.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bóc lớp GO bằng kỹ thuật vi sóng

3.2. Ảnh hưởng nhiệt độ đến quá trình khử GO về G

3.3. Đặc trưng hình thái học của vật liệu GO và G khử nhiệt

3.3.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

3.3.2. Phổ hồng ngoại chuyển dịch Fourier (FTIR)

3.3.3. Kính hiển vi điện tử truyền qua độ phân giải cao (HR –TEM)

3.3.4. Hấp phụ và khử hấp phụ Nitơ (BET)

3.3.5. Quang phổ XPS

3.4. Khả năng hấp phụ asen của GO, G, GO/Fe3O4

3.4.1. Ảnh hưởng của PH

3.4.2. Nghiên cứu đẳng nhiệt hấp phụ

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng hấp phụ asen của graphen oxit và graphen

Ô nhiễm asen trong nước ngầm là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Graphen oxit và graphen, với cấu trúc nano độc đáo, đã được nghiên cứu như những vật liệu tiềm năng trong việc hấp phụ asen. Khả năng hấp phụ của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như diện tích bề mặt, cấu trúc và tính chất hóa học. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về khả năng hấp phụ asen của hai loại vật liệu này.

1.1. Tính chất của graphen và graphen oxit trong hấp phụ asen

Graphen và graphen oxit có diện tích bề mặt lớn, giúp tăng cường khả năng hấp phụ. Graphen oxit có nhiều nhóm chức năng trên bề mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hấp phụ asen. Nghiên cứu cho thấy graphen oxit có khả năng hấp phụ asen cao hơn so với graphen do sự hiện diện của các nhóm hydroxyl và carboxyl.

1.2. Tình hình ô nhiễm asen tại Việt Nam

Theo thống kê, khoảng 21% dân số Việt Nam đang sử dụng nguồn nước nhiễm asen vượt mức cho phép. Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng ở các vùng nông thôn, nơi nước ngầm là nguồn cung cấp chính. Việc tìm kiếm các phương pháp xử lý hiệu quả như hấp phụ bằng graphen và graphen oxit là rất cần thiết.

II. Vấn đề ô nhiễm asen và thách thức trong xử lý

Ô nhiễm asen trong nước ngầm gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh mãn tính khác. Các phương pháp xử lý hiện tại như lắng lọc và trao đổi ion có nhiều hạn chế. Hấp phụ là một phương pháp hiệu quả, nhưng cần tìm kiếm các vật liệu hấp phụ mới có khả năng xử lý cao hơn.

2.1. Các phương pháp xử lý asen hiện tại

Các phương pháp như lắng lọc, kết tủa và trao đổi ion đã được áp dụng, nhưng thường gặp khó khăn trong việc loại bỏ hoàn toàn asen. Hấp phụ được coi là phương pháp an toàn và hiệu quả hơn, nhưng cần vật liệu hấp phụ có hiệu suất cao.

2.2. Thách thức trong việc phát triển vật liệu hấp phụ

Việc phát triển vật liệu hấp phụ mới như graphen và graphen oxit gặp nhiều thách thức, bao gồm chi phí sản xuất và khả năng tái sử dụng. Nghiên cứu cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp và cải thiện khả năng hấp phụ của các vật liệu này.

III. Phương pháp nghiên cứu khả năng hấp phụ asen của graphen oxit và graphen

Nghiên cứu khả năng hấp phụ asen của graphen oxit và graphen được thực hiện thông qua các thí nghiệm hấp phụ trong điều kiện khác nhau. Các phương pháp phân tích như XRD, FTIR và AAS được sử dụng để đánh giá hiệu quả hấp phụ.

3.1. Quy trình tổng hợp graphen oxit và graphen

Graphen oxit được tổng hợp từ graphit thông qua các phương pháp hóa học như oxi hóa. Graphen được tạo ra từ graphen oxit bằng cách khử hóa học hoặc nhiệt. Các phương pháp này cần được tối ưu hóa để đạt được vật liệu có chất lượng cao.

3.2. Thí nghiệm hấp phụ asen và phân tích kết quả

Thí nghiệm hấp phụ asen được thực hiện với các mẫu graphen và graphen oxit. Kết quả được phân tích bằng phương pháp AAS để xác định nồng độ asen trước và sau khi hấp phụ. Các mô hình đẳng nhiệt như Langmuir và Freundlich cũng được áp dụng để đánh giá khả năng hấp phụ.

IV. Kết quả nghiên cứu khả năng hấp phụ asen của graphen oxit và graphen

Kết quả nghiên cứu cho thấy graphen oxit có khả năng hấp phụ asen cao hơn so với graphen. Các yếu tố như pH, nhiệt độ và thời gian hấp phụ đều ảnh hưởng đến hiệu suất hấp phụ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc kết hợp graphen oxit với các vật liệu khác như Fe3O4 có thể nâng cao khả năng hấp phụ.

4.1. So sánh khả năng hấp phụ giữa graphen oxit và graphen

Graphen oxit cho thấy khả năng hấp phụ asen vượt trội hơn graphen do sự hiện diện của các nhóm chức năng. Kết quả thí nghiệm cho thấy graphen oxit có thể hấp phụ lên đến 3,7 mg/g asen, trong khi graphen chỉ đạt khoảng 2,5 mg/g.

4.2. Ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng hấp phụ

Các yếu tố như pH và nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp phụ asen. Nghiên cứu cho thấy pH tối ưu cho quá trình hấp phụ là khoảng 7, trong khi nhiệt độ cao hơn có thể làm giảm hiệu suất hấp phụ.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng graphen oxit và graphen là những vật liệu tiềm năng trong việc hấp phụ asen. Việc phát triển và tối ưu hóa các phương pháp tổng hợp sẽ mở ra cơ hội mới trong việc xử lý ô nhiễm asen. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện khả năng hấp phụ và ứng dụng thực tiễn của các vật liệu này.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy graphen oxit có khả năng hấp phụ asen cao hơn graphen. Các yếu tố như pH và nhiệt độ cần được kiểm soát để tối ưu hóa hiệu suất hấp phụ.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tập trung vào việc phát triển các vật liệu hấp phụ mới và cải thiện quy trình tổng hợp. Việc kết hợp graphen oxit với các vật liệu khác cũng là một hướng đi tiềm năng để nâng cao khả năng hấp phụ asen.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu tổng hợp đặc trưng và khả năng hấp phụ asen của vật liệu trên cơ sở các bon graphen oxit graphen

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm Chương 3: Kết quả và thảo luận Chương 4: Kết luận và kiến nghị Ngô Quang Binh 3 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vật liệu Cacbon Carbon là nguyên tố đóng vai trò quan trọng cho sự sống và là nguyên tố cơ bản của hàng triệu hợp chất hóa học hữu cơ. Trong một nguyên tử carbon, các electron lớp ngoài cùng có thể hình thành nên nhiều kiểu lai hóa khác nhau, do đó khi các nguyên tử này liên kết lại với nhau chúng có khả năng tạo nên nhiều dạng cấu trúc tinh thể như: Cấu trúc tinh thể ba chiều (3D), hai chiều (2D), một chiều (1D) và không chiều (0D) [19, 45]. Điều này được thể hiện thông qua sự phong phú về các dạng thù hình của vật liệu cacbon là: Kim cương, graphit, graphen, ống nano cacbon, fulleren.

Kim Cương Kim cương [36] là dạng thù hình có cấu trúc tinh thể 3 chiều (3D) của cacbon được biết đến nhiều nhất. Cấu trúc của kim cương có thể được mô tả bằng hai mạng lập phương tâm mặt dịch chuyển đối với nhau theo đường chéo chính một đoạn bằng 1/4 đường chéo đó (Hình 1. Mỗi nguyên tử carbon trong kim cương liên kết cộng hóa trị với 4 nguyên tử carbon khác tạo thành một khối tứ diện. Với cấu trúc bền vững này mà kim cương có những tính chất vật lí hoàn hảo, nó có độ cứng rất cao, độ bền nhiệt, và độ tán sắc cực tốt, vì thế chúng có rất nhiều ứng dụng trong cả công nghiệp và ngành kim hoàn.

Cấu trúc tinh thể kim cương 1. Graphit Graphit [9, 17, 54, 81] cũng là một dạng thù hình có cấu trúc tinh thể 3 chiều (3D) của cacbon. Nhưng trái ngược với kim cương, graphit là chất dẫn điện rất tốt, bởi vì trong graphit mỗi nguyên tử carbon liên kết cộng hóa trị với 3 nguyên tử carbon khác hình thành nên mạng phẳng với các ô hình lục giác, do đó mỗi nguyên tử carbon trong mạng còn dư 1 electron, các electron còn lại này có thể chuyển động tự Ngô Quang Binh 4 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do bên trên và bên dưới mặt mạng, góp phần vào tính dẫn điện của graphit. Các mạng cacbon này liên kết với nhau bằng lực Van der Waals hình thành nên cấu trúc tinh thể 3 chiều (Hình 1.

Tuy nhiên các electron tự do chỉ có thể chuyển động dọc theo các bề mặt, cho nên khả năng dẫn điện của graphit có tính định hướng. Do đặc điểm cấu trúc có sự liên kết lỏng lẻo giữa các tấm (lớp) trong graphit nên nó thường được dùng trong công nghiệp với vai trò là chất bôi trơn dạng khô [59]. Cấu trúc tinh thể graphit (Than chì) Graphit có thể được sử dụng để sản xuất vật liệu dẫn điện, trong ngành công nghiệp điện cho sản xuất điện, bàn chải, carbon thanh, ống carbon, các miếng đệm than chì, các bộ phận điện thoại, lớp phủ ống TV, … và nó thường được áp dụng như một chất bôi trơn trong các ngành công nghiệp máy móc thiết bị. Fulleren Fuleren là một dạng thù hình của carbon với cấu trúc tinh thể 0 chiều (0D), thường có dạng hình cầu, còn được gọi là buckyball và được chế tạo đầu tiên vào năm 1985 bởi Kroto và cộng sự [20].

Cấu trúc của fulleren được xem như tạo thành từ việc quấn lại của một lớp đơn (được gọi là graphen trong các phần trình bày sau) trong cấu Hình 1. Mô hình Fulleren Ngô Quang Binh 5 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trúc của graphit (Hình 1.3), và khi quấn lại như vậy thì một số liên kết sp2 trong graphit sẽ biến đổi thành liên kết sp3 trong kim cương, điều này làm cho các nguyên tử trong fulleren trở nên ổn định hơn. Trong vài thập niên qua, fulleren đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: dùng làm lớp bọc bên ngoài của áo giáp, thuốc kháng sinh để kháng khuẩn và đặc biệt là phá hủy một số tế bào ung thư như: U melanin, ngoài ra nó cũng được dùng để chế tạo các chất kháng vi sinh vật nhạy sáng. Giải Nobel về hóa học 1996 được trao cho hai nhà khoa học là đã tìm ra Fuleren là Smalley và Kroto (được trao nửa giải, nữa còn lại trao cho Robert Curl).

Ống nano cacbon Ống nano cacbon [15, 31, 35, 46, 61] là một dạng thù hình của carbon với cấu trúc tinh thể 1 chiều (1D). Năm 1991 Tiến sĩ Sumio Lijma một nghiên cứu viên của công ty NEC ở Nhật khi theo dõi các loại bụi trong bình kín để sản xuất fulleren theo phương pháp hồ quang điện trong khí Hình 1. Mô hình ống nano cacbon trơ với điện cực than chì lại phát hiện các ống rỗng có đường kính ống 1,4 nm, còn chiều dài ống cỡ micromet, thậm chí đến milimet, các ống này gọi ống nano cacbon. Ống nano cacbon giống như một lá graphit cuộn tròn lại (Hình 1.

Mặt ngoài của ống nano cacbon là các nguyên tử cacbon liên kết với nhau rất chắc chắn bằng liên kết cộng hóa trị, mỗi nguyên tử cacbon liên kết với ba nguyên tử cacbon khác, từ đó tạo thành các hình 6 cạnh. Ống nano cacbon rất nhẹ, bền hơn thép 100 lần. Về tính chất điện, từ, nhiệt, ống nano cacbon có nhiều đặc điểm còn tốt hơn fulleren. Các ống nano carbon được chia làm 2 loại chính: đơn vách và đa vách ( Hình 1.

Nếu các nguyên tử carbon được cuộn tròn về phía mép, ống sẽ mang tính chất của kim loại, còn khi chúng được cuộn lệch (không đồng tâm) ống sẽ có tính chất của chất bán dẫn. Ngô Quang Binh 6 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc của ống nanocacbon đơn vách (a) và đa vách (b) Các tính chất của ống nano cacbon được bởi Xie và các cộng sự thống kê [76] năm 2005 ở bảng 1. Tính chất của ống nano cacbon Tính chất Đơn vách Đa vách Khối lượng riêng (g/cm3) 0,8 1,8 Mô đun đàn hồi (TPa) ~1 ~ 0,3-1 Độ bền (GPa) 50 – 500 10 – 60 Điện trở suất (μΩcm) 5 – 50 5 – 50 Độ dẫn điện (W m-1 K-1) 3000 3000 Tính ổn định nhiệt (trong không khí) >700 °C >700 °C Diện tích bề mặt (m2/g) ~400-900 ~200-400 1.

Graphen Graphen là một mặt phẳng đơn lớp của những nguyên tử cacbon được sắp xếp chặt chẽ trong mạng tinh thể hình tổ ong 2 chiều (2D). Graphen được cuộn lại sẽ tạo nên dạng thù hình fullerene 0D, được quấn lại sẽ tạo nên dạng thù hình cacbon nanotube 1D, hoặc được xếp chồng lên nhau sẽ tạo nên dạng thù hình graphit 3D (Hình 1. Ngô Quang Binh 7 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Graphen - vật liệu có cấu trúc cơ bản (2D) cho các vật liệu cacbon khác (0D, 1D, và 3D) Lý thuyết về graphen được D.

Brodie đã biết đến khi nghiên cứu cấu trúc phân lớp của than ôxít được khử nhiệt vào năm 1859. Wallace là người đầu tiên viết về cấu trúc vùng năng lượng của graphen [60], và đã nêu lên những đặc tính tốt của loại vật liệu này [37]. Những hình ảnh TEM đầu tiên của vài lớp graphen được xuất bản bởi G. Còn những nghiên cứu về chi tiết thì chưa được quan tâm bởi vì các nhà khoa học cho rằng cấu trúc tinh thể 2 chiều với bề dày chỉ bằng 1 nguyên tử không tồn tại và các thiết bị kỹ thuật lúc bấy giờ cũng không thể quan sát thấy các cấu trúc này.

Đến năm 2004, bằng thực nghiệm của 2 nhà khoa học người Nga là Kostya Novoselov và Andre Geim thuộc Trường Đại Học Manchester ở Anh đã chứng tỏ sự tồn tại của graphen, và họ đã đạt được giải Noben năm 2010. Từ đó graphen đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trên thế giới bởi các đặc tính vượt trội của nó [8]. Những tấm graphen có cấu trúc phẳng và độ dày một nguyên tử, là vật liệu mỏng nhất trong tất cả các vật liệu hiện có, cấu trúc bền vững của graphen được xem là vật liệu cứng nhất hiện nay và ở dạng tinh khiết thì graphen dẫn điện nhanh hơn bất cứ chất nào khác (ngay cả ở nhiệt độ bình thường). Hơn nữa, các electron đi qua graphen hầu như không gặp điện trở nên ít sinh nhiệt thấp hơn điện trở của Ag và là điện trở thấp nhất hiện nay ở nhiệt độ phòng.

Tính chất Ngô Quang Binh 8 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vật lý của đơn lớp graphen ở nhiệt độ phòng được Sumit Goenka và cộng sự [69], thống kê lại ở Bảng 1. Tính chất vật lý của đơn lớp graphen ở nhiệt độ phòng Tính chất Giá trị Chiều dài liên kết C-C (nm) 0,142 Mật độ, (mg.m-2) 0,77 Diện tích bề mặt lý thuyết (m2 g-1) 2630 Mô đun đàn hồi (GPA) 1100 Độ cứng (GPA) 125 Điện trở (cm2 V-1 s-1) 200 000 Độ dẫn điện (W m-1 K-1) 5000 Độ truyền quang ( %) 97,7 1. Tổng quan về graphen Graphen có cấu trúc lớp giống graphit [32]. Nét điển hình của cấu trúc là sắp xếp các nguyên tử carbon trên đỉnh các lục giác đều, nằm cách nhau những khoảng nhất định.

Các nguyên tử carbon được phân bố trong những mặt phẳng song song, chúng cách nhau một khoảng là 1,42 Å, khoảng cách giữa các mặt phẳng lục giác là 3,35 Å và liên kết với nhau bởi những liên kết sp2. Tuy nhiên chúng đã được tách lớp thành các các vảy nhỏ chỉ chứa một hoặc một vài lớp cacbon mà không chứa quá nhiều lớp cacbon như graphit như mô tả ở Hình 1. Cấu trúc lớp của tinh thể graphen Ngô Quang Binh 9 Luận văn thạc sĩ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại graphen Chia làm 2 loại: graphen đơn lớp và đa lớp Graphen đơn lớp là một dạng tinh thể hai chiều của cacbon, có độ lưu động của electron rất tốt và có các tính chất tốt, khiến cho nó là vật liệu đáng nghiên cứu đối với lĩnh vực điện tử và quang lượng tử cỡ nano.

Nhưng nó Hình 1. Graphen đơn lớp không có khe vùng (độ rộng vùng cấm bằng 0), làm hạn chế việc sử dụng graphen trong lĩnh vực điện tử. Graphen đa lớp (MEG: Multilayer Epitaxial Graphene) gồm các lớp graphen xếp chồng lên nhau (lớn hơn 2 lớp) theo kiểu sao cho mỗi lớp độc lập và cách ly về mặt điện tử học [15] như Hình 1. Tính chất của graphen [32, 40, 65] 1.

Graphen là vật liệu 2 chiều mỏng nhất Graphen có bề dày bằng 1/200000 sợi tóc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ