CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE MÔ HÌNH KET HON TỪ XA 1. Khái quát chung về kết hôn và đăng ký kết hôn 1. Khái niệm kết hôn Nam, nữ đến tuôi trưởng thành thường xuất hiện tình cảm gắn bó, từ đó dẫn đến nhu cau kết hôn và chung sống trong tương lai. Như vậy, kết hôn là khởi đầu của quan hệ hôn nhân, là cơ sở hình thành gia đình, vợ chồng cũng từ đó thực hiện chức năng tái sản xuất xã hội - sản sinh thế hệ con cái kế cận.
Và với ý nghĩa đó, kết hôn luôn được coi là một sự kiện trọng đại, đặc biệt quan trọng không chỉ đối với những cá nhân kết hôn mà còn đối với cả gia đình. Theo từ điển tiếng Việt “Kết hôn là sự kết hợp hai người khác giới dé lập gia đình, sinh đẻ con cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình ”. Quyền kết hôn ở Việt Nam cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khang định trong tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 như sau: “Tat cả mọi người sinh ra đều có quyên bình dang. Tạo hóa cho họ những quyển không ai có thể xâm phạm được, trong những quyên dy có quyên được sống, quyên tự do và quyên mưu cau hạnh phic.” Nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm chính là một trong những mục tiêu của mưu cầu hạnh phúc và quan hệ hôn nhân được nhà nước công nhận trên cơ sở pháp lý là đăng ký kết hôn.
Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 đưa ra giải thích về kết hôn như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo đó, quy định trên thê hiện những nội dung cơ bản: Thứ nhất, chủ thé của hành vi kết hôn là hai người khác giới tinh, bao gom một bên chủ thể là nam và một bên là nữ. Đây là quan niệm của nhà nước Việt Nam về hôn nhân, đã hình thành từ xa xưa, phù hợp với quan niệm chung của xã hội Việt Nam cũng như của phần lớn các quốc gia hiện nay. Quan điểm này được cu thé hóa thông qua quy định trong Luật HN&GD năm 2014: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tinh.”? Quy định này đã có sự phát triển hơn so với quy „2 2 Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 định tại Luật HN&GD năm 2000, theo đó, trước day kết hôn giữa những người cùng giới tính thuộc những trường hợp bị cam kết hôn.3 Thứ hai, bản chất của kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chong.
Hai bên kết hôn là nhằm sắn bó cuộc song của chính ho về lâu dai, tạo một sự liên kết đặc biệt, thường là mong muốn đến hết đời, xây dựng thiết chế ổn định của xã hội - gia đình, sinh con, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Do vậy, khi nhìn nhận kết hôn như một thỏa thuận giữa hai bên nam và nữ về việc xác định một mối quan hệ, một ràng buộc pháp lý thì cũng cần phải nhìn nhận day đủ tính đặc biệt của nó dé phân biệt rõ hàng với các thỏa thuận khác vốn được coi là hợp đồng quy định trong Bộ luật Dân sự. Thứ ba, nam nữ chỉ có quyên kết hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Chương II Luật HN@&ŒG1?) năm 2014. Các nhà làm luật đưa ra những điều kiện này là đã phan nao dự liệu trước những tình huống có thé xảy ra nêu không thỏa mãn các điều kiện đồng thời bảo đảm quyền lợi của các bên kết hôn, của con cái, gia đình và xã hội.
Do vậy, quy định về điều kiện kết hôn là điều vô cùng cần thiết. Thứ tư, việc kết hôn được thực hiện thông qua thủ tục đăng ký kế! hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyển. Việc kết hôn không chi ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các bên kết hôn mà còn liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của gia đình và xã hội, vì vậy, Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ việc kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hôn. Cơ quan nha nước có thâm quyền đăng ký kết hôn có trách nhiệm kiểm tra điều kiện kết hôn, nếu hai bên chủ thể đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì trao giấy chứng nhận kết hôn cho họ và ghi việc kết hôn vào số hộ tịch theo quy định pháp luật về hộ tịch.
Như vậy, việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thâm quyền và sẽ có hiệu lực ké từ ngày đăng ky. Theo Luật HN&GD, việc đăng ký kết hôn được thực hiện công khai, qua đó, Nhà nước kiểm soát việc kết hôn dé đảm bao lợi ich của ban thân người kết hôn cũng như lợi ích của người khác có liên quan, của gia đình và xã hội. Việc nam nữ tô chức hôn lễ tại tư gia, nhà thờ hay những địa điểm khác không bi coi là trái pháp luật, tuy nhiên không có giá trị pháp ly, chỉ khi nào họ tiễn hành đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền thì mới được coi là hình thành hôn nhân hợp pháp. 3 Khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Qua những điều trên có thé thấy, để kết hôn được coi là hợp pháp thì hai bên phải được pháp luật thừa nhận, mọi hình thức đăng ký không phù hợp quy định đều không được công nhận.
Như vậy, có thê hiểu kết hôn là sự kiện pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo diéu kiện, trình tự, thủ tục luật định nhằm công nhận các bên kết hôn là vợ chong. Đăng ký kết hôn 1. Khái niệm đăng ký kết hôn Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vì vậy, khi kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn và phải thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 9 Luật HN&GD năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký va do cơ quan nha nước có thẩm quyền thực hiện. Như vậy, đăng ký kết hôn là một nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận. Đề hôn nhân có giá trỊ pháp lý thì người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn. Điều 9 Luật HN&GD năm 2014 thé hiện rõ ràng ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn: Đây là thủ tục bắt buộc để việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có giá trị pháp lý.
Những nghi thức khác như: tổ chức hôn lễ tại gia đình, tại nhà thờ,. đều không có giá trị pháp lý. Kết hôn là cơ sở phát sinh hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân được tính từ khi đăng ký kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt theo quy định của pháp luật 4, trong thời kỳ hôn nhân, giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản của vợ, chồng và được Nhà nước bảo vệ.
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng quy định về đăng ký kết hôn chỉ là yêu cầu về hình thức (thủ tục) của việc kết hôn mà không phải là quy định về điều kiện kết hôn. Do đó, việc nam và nữ chỉ tổ chức hôn lễ tại gia đình, tại nhà thờ. mà không đăng ký kết hôn thì không bị coi là trái pháp luật. Họ chỉ phải chịu hậu quả là Nhà nước không công nhận quan hệ của họ là vợ chồng: khi có tranh chấp về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng thì Tòa án giải quyết theo các quy định áp dụng đối với nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
* Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ° Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, quyền kết hôn là một quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình của cá nhân. Cá nhân thực hiện quyền kết hôn theo quy định của Bộ luật Dan sự, Luật HN&GD và luật khác có liên quan. Theo đó, muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thâm quyền. Khi cơ quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn, ghi vào số hộ tịch và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho họ thì giữa hai bên mới phát sinh quan hệ vợ chong.
Một số vấn đề khái quát về mô hình kết hôn từ xa 1.Quan điểm về mô hình kết hôn từ xa Mô hình kết hôn từ xa là một mô hình rất mới ở Việt Nam. Từ trước đến nay, mọi người dân Việt Nam đều đăng ký kết hôn theo mô hình truyền thống tại Ủy ban nhân dân tại địa phương với các thủ tục, giấy tờ như đã được nêu ở phần trên. Việc xuất hiện một thuật ngữ mới về một hình thức mới chưa được pháp luật quy định rõ ràng, vô hình chung khiến mọi người cảm thấy lạ lẫm và mới mẻ. Trong một khảo sát về mô hình kết hôn từ xa do nhóm nghiên cứu thực hiện, chúng tôi có mở ra câu hỏi để đánh giá độ hiểu biết phổ biến của mọi người đối với thuật ngữ “Kết hôn từ xa”: Anhichi đã bao giờ nghe tới thuật ngữ "KẾT HON TỪ XA" chưa? 123 câu trả lời @ đã từng nghe qua chưa từng nghe qua Hình 1.
Biéu đô khảo sát mức độ hiếu biết về kết hôn từ xa. Theo kết quả tại biểu đô, trên tổng số 123 câu trả lời thì có tới 62,6% người tham gia nói rằng là “chưa từng nghe qua” và chỉ có 37,4% người được hỏi nói răng “đã từng nghe qua” về thuật ngữ này. Điều này cho thay mức độ phổ biến của mô hình này còn thâp, chưa thực sự được mọi người biệt đên va đê ý. Qua đó, ta cũng có thê 10 thấy nhiều hơn răng việc người dân tự tìm hiểu về các quy định pháp luật cũng như các thủ tục phục vụ cho chính nhu cầu của họ là chưa cao, thể hiện rõ sự thiếu quan tâm dẫn đến việc không hiểu đúng va đủ những quyền, lợi ích mà họ có.
Trong biéu mẫu khảo sát, nhóm nghiên cứu có đưa ra một câu hỏi dudi dạng câu trả lời ngắn như sau: Theo anh/chi, mô hình kết hôn từ xa được hiểu là gì?