Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học kết hôn từ xa kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới và áp dụng ở việt nam trong điều kiện ứng phó với đại dịch covid19 hiện nay

Khám phá kinh nghiệm kết hôn từ xa từ các quốc gia và áp dụng tại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 qua nghiên cứu khoa học sinh viên.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật chung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài

2022

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE VE MÔ HÌNH KET HON TỪ XA

1.1. Khai quát chung về kết hôn va đăng ký kết hôn

1.2. Đăng ky) kết NOM

1.3. Một số van dé khái quát về mô hình kết hôn từ xa

1.4. Quan điểm về mô hình kết hôn từ XA

1.5. Tinh tat yếu của kết hôn từ xa trong xã hội hiện nay

1.6. Ý nghĩa của kẾt NON từ XA

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KÉT HÔN TỪ XA CỦA MOT SO QUOC GIA TREN THE GIỚI

2.1. Mô hình kết hôn từ xa của Hop chủng quốc Hoa Kỳ

2.1.1. Kết hôn từ xa tại California

2.1.2. Kết hôn từ xa tại COLOrAdO

2.1.3. Kết hôn từ xa tại tiểu bang Ufah

2.2. Mô hình kết hôn từ xa của AN DO

2.2.1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của kết hôn từ xa ở Ấn Độ

2.2.2. Thủ tục và hình thức đăng kỷ kết hôn từ xa ở Ấn Độ

2.2.3. Tinh hợp lệ về pháp lý và truyền thong của kết hôn từ xa ở An Độ

2.3. Mô hình kết hôn từ xa của Nhật Bản

2.3.1. Khái quát về tình hình kết hôn tại Nhật và ý nghĩa của hình thức kết PRONE

2.3.2. Dang ký kết hôn từ xa tại NAGE

2.3.3. Điều kiện kết hôn áp dùng cho người Nhật

2.3.4. Giấy tờ cân thiết dé thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn

2.3.5. Kết hôn giữa người Nhật và người Nhật

2.3.6. Kết hôn giữa người Nhật và người nước ngoài

2.3.7. Kết hôn giữa hai người nước ngoài với nhau tại Nhật

2.3.8. Thủ tục đăng ký kết hôn từ xa tại Nhật

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC THỊ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HANH VE KET HON VÀ KHẢ NANG UNG DUNG MÔ HINH KET HON TỪ XA TẠI VIET NAM TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 HIEN NAY

3.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về kết hôn tại Việt Nam

3.2. Thẩm quyên đăng kỷ kết HiÔN

3.3. Quy định về độ tuổi Ket NOM

3.4. Quy định về sự tự nguyện của các bÊn

3.5. Quy định về năng lực hành vì dân sự

3.6. Quy định về các diéu cấm của luật trong kết hôn

3.7. Quy định về việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước CÓ TRG QUYEN

3.8. Dur bao tink hinh 1. Dé xuất hoàn thiện quy định pháp lat

3.9. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Kết hôn từ xa Khái niệm và bối cảnh

Kết hôn từ xa là một hình thức đăng ký hôn nhân thông qua các phương tiện công nghệ, cho phép các cặp đôi thực hiện thủ tục kết hôn mà không cần có mặt trực tiếp tại cơ quan nhà nước. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, hình thức này trở nên cấp thiết do các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế tụ tập đám đông. Hôn nhân trực tuyến không chỉ là giải pháp tạm thời mà còn mở ra hướng đi mới trong việc hiện đại hóa thủ tục hành chính. Tại Việt Nam, mặc dù chưa phổ biến, nhưng kết hôn từ xa đã được đề cập như một phương án ứng phó với tình hình dịch bệnh.

1.1. Khái niệm kết hôn từ xa

Kết hôn từ xa được định nghĩa là quá trình đăng ký hôn nhân thông qua các nền tảng công nghệ như video call, phần mềm họp trực tuyến, hoặc các hệ thống quản lý hộ tịch trực tuyến. Đây là hình thức kết hôn được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia như Mỹ, Ấn Độ, và Nhật Bản trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có quy định cụ thể, nhưng nhu cầu về hôn nhân trực tuyến đang ngày càng tăng cao.

1.2. Bối cảnh đại dịch COVID 19

Đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi nhiều khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc đăng ký kết hôn. Các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế tụ tập đã khiến nhiều cặp đôi gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục kết hôn truyền thống. Kết hôn từ xa trở thành giải pháp tối ưu, giúp các cặp đôi duy trì quyền kết hôn mà vẫn tuân thủ các quy định phòng chống dịch bệnh.

II. Kinh nghiệm quốc tế về kết hôn từ xa

Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng kết hôn từ xa như một giải pháp hiệu quả trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Tại Mỹ, các tiểu bang như California và Colorado đã triển khai hệ thống đăng ký hôn nhân trực tuyến, cho phép các cặp đôi thực hiện thủ tục kết hôn từ xa. Ấn Độ và Nhật Bản cũng đã thông qua các quy định pháp lý để công nhận hôn nhân trực tuyến. Những kinh nghiệm này có thể là bài học quý giá cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan.

2.1. Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, các tiểu bang như California và Colorado đã triển khai hệ thống kết hôn trực tuyến, cho phép các cặp đôi thực hiện thủ tục kết hôn thông qua video call. Các quy định này đã được áp dụng rộng rãi và nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng. Đây là một ví dụ điển hình về việc ứng dụng công nghệ vào thủ tục hành chính trong thời kỳ đại dịch COVID-19.

2.2. Kinh nghiệm từ Ấn Độ và Nhật Bản

Ấn Độ và Nhật Bản cũng đã thông qua các quy định pháp lý để công nhận hôn nhân từ xa. Tại Ấn Độ, thủ tục đăng ký kết hôn từ xa được thực hiện thông qua các nền tảng trực tuyến, trong khi Nhật Bản áp dụng hệ thống quản lý hộ tịch điện tử. Những kinh nghiệm này cho thấy tính khả thi của kết hôn từ xa trong điều kiện dịch bệnh.

III. Áp dụng kết hôn từ xa tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mặc dù chưa có quy định cụ thể về kết hôn từ xa, nhưng nhu cầu về hình thức này đang ngày càng tăng cao trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Việc áp dụng hôn nhân trực tuyến không chỉ giúp các cặp đôi thuận tiện hơn trong việc đăng ký kết hôn mà còn góp phần hiện đại hóa hệ thống thủ tục hành chính. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần có sự điều chỉnh và bổ sung các quy định pháp luật hiện hành.

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về kết hôn từ xa. Các thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được thực hiện theo phương thức truyền thống, yêu cầu sự có mặt trực tiếp của các bên. Điều này gây khó khăn cho nhiều cặp đôi trong thời kỳ đại dịch COVID-19, khi các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng nghiêm ngặt.

3.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Để áp dụng hiệu quả kết hôn từ xa, cần bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục đăng ký hôn nhân trực tuyến. Các quy định này cần đảm bảo tính minh bạch, an toàn và bảo mật thông tin. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch điện tử để hỗ trợ việc đăng ký kết hôn từ xa một cách thuận tiện và hiệu quả.

21/02/2025
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học kết hôn từ xa kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới và áp dụng ở việt nam trong điều kiện ứng phó với đại dịch covid19 hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE MÔ HÌNH KET HON TỪ XA 1. Khái quát chung về kết hôn và đăng ký kết hôn 1. Khái niệm kết hôn Nam, nữ đến tuôi trưởng thành thường xuất hiện tình cảm gắn bó, từ đó dẫn đến nhu cau kết hôn và chung sống trong tương lai. Như vậy, kết hôn là khởi đầu của quan hệ hôn nhân, là cơ sở hình thành gia đình, vợ chồng cũng từ đó thực hiện chức năng tái sản xuất xã hội - sản sinh thế hệ con cái kế cận.

Và với ý nghĩa đó, kết hôn luôn được coi là một sự kiện trọng đại, đặc biệt quan trọng không chỉ đối với những cá nhân kết hôn mà còn đối với cả gia đình. Theo từ điển tiếng Việt “Kết hôn là sự kết hợp hai người khác giới dé lập gia đình, sinh đẻ con cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình ”. Quyền kết hôn ở Việt Nam cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khang định trong tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 như sau: “Tat cả mọi người sinh ra đều có quyên bình dang. Tạo hóa cho họ những quyển không ai có thể xâm phạm được, trong những quyên dy có quyên được sống, quyên tự do và quyên mưu cau hạnh phic.” Nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm chính là một trong những mục tiêu của mưu cầu hạnh phúc và quan hệ hôn nhân được nhà nước công nhận trên cơ sở pháp lý là đăng ký kết hôn.

Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 đưa ra giải thích về kết hôn như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo đó, quy định trên thê hiện những nội dung cơ bản: Thứ nhất, chủ thé của hành vi kết hôn là hai người khác giới tinh, bao gom một bên chủ thể là nam và một bên là nữ. Đây là quan niệm của nhà nước Việt Nam về hôn nhân, đã hình thành từ xa xưa, phù hợp với quan niệm chung của xã hội Việt Nam cũng như của phần lớn các quốc gia hiện nay. Quan điểm này được cu thé hóa thông qua quy định trong Luật HN&GD năm 2014: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tinh.”? Quy định này đã có sự phát triển hơn so với quy „2 2 Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 định tại Luật HN&GD năm 2000, theo đó, trước day kết hôn giữa những người cùng giới tính thuộc những trường hợp bị cam kết hôn.3 Thứ hai, bản chất của kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chong.

Hai bên kết hôn là nhằm sắn bó cuộc song của chính ho về lâu dai, tạo một sự liên kết đặc biệt, thường là mong muốn đến hết đời, xây dựng thiết chế ổn định của xã hội - gia đình, sinh con, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Do vậy, khi nhìn nhận kết hôn như một thỏa thuận giữa hai bên nam và nữ về việc xác định một mối quan hệ, một ràng buộc pháp lý thì cũng cần phải nhìn nhận day đủ tính đặc biệt của nó dé phân biệt rõ hàng với các thỏa thuận khác vốn được coi là hợp đồng quy định trong Bộ luật Dân sự. Thứ ba, nam nữ chỉ có quyên kết hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Chương II Luật HN@&ŒG1?) năm 2014. Các nhà làm luật đưa ra những điều kiện này là đã phan nao dự liệu trước những tình huống có thé xảy ra nêu không thỏa mãn các điều kiện đồng thời bảo đảm quyền lợi của các bên kết hôn, của con cái, gia đình và xã hội.

Do vậy, quy định về điều kiện kết hôn là điều vô cùng cần thiết. Thứ tư, việc kết hôn được thực hiện thông qua thủ tục đăng ký kế! hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyển. Việc kết hôn không chi ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các bên kết hôn mà còn liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của gia đình và xã hội, vì vậy, Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ việc kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hôn. Cơ quan nha nước có thâm quyền đăng ký kết hôn có trách nhiệm kiểm tra điều kiện kết hôn, nếu hai bên chủ thể đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì trao giấy chứng nhận kết hôn cho họ và ghi việc kết hôn vào số hộ tịch theo quy định pháp luật về hộ tịch.

Như vậy, việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thâm quyền và sẽ có hiệu lực ké từ ngày đăng ky. Theo Luật HN&GD, việc đăng ký kết hôn được thực hiện công khai, qua đó, Nhà nước kiểm soát việc kết hôn dé đảm bao lợi ich của ban thân người kết hôn cũng như lợi ích của người khác có liên quan, của gia đình và xã hội. Việc nam nữ tô chức hôn lễ tại tư gia, nhà thờ hay những địa điểm khác không bi coi là trái pháp luật, tuy nhiên không có giá trị pháp ly, chỉ khi nào họ tiễn hành đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền thì mới được coi là hình thành hôn nhân hợp pháp. 3 Khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Qua những điều trên có thé thấy, để kết hôn được coi là hợp pháp thì hai bên phải được pháp luật thừa nhận, mọi hình thức đăng ký không phù hợp quy định đều không được công nhận.

Như vậy, có thê hiểu kết hôn là sự kiện pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo diéu kiện, trình tự, thủ tục luật định nhằm công nhận các bên kết hôn là vợ chong. Đăng ký kết hôn 1. Khái niệm đăng ký kết hôn Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vì vậy, khi kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn và phải thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 9 Luật HN&GD năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký va do cơ quan nha nước có thẩm quyền thực hiện. Như vậy, đăng ký kết hôn là một nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận. Đề hôn nhân có giá trỊ pháp lý thì người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn. Điều 9 Luật HN&GD năm 2014 thé hiện rõ ràng ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn: Đây là thủ tục bắt buộc để việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có giá trị pháp lý.

Những nghi thức khác như: tổ chức hôn lễ tại gia đình, tại nhà thờ,. đều không có giá trị pháp lý. Kết hôn là cơ sở phát sinh hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân được tính từ khi đăng ký kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt theo quy định của pháp luật 4, trong thời kỳ hôn nhân, giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản của vợ, chồng và được Nhà nước bảo vệ.

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng quy định về đăng ký kết hôn chỉ là yêu cầu về hình thức (thủ tục) của việc kết hôn mà không phải là quy định về điều kiện kết hôn. Do đó, việc nam và nữ chỉ tổ chức hôn lễ tại gia đình, tại nhà thờ. mà không đăng ký kết hôn thì không bị coi là trái pháp luật. Họ chỉ phải chịu hậu quả là Nhà nước không công nhận quan hệ của họ là vợ chồng: khi có tranh chấp về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng thì Tòa án giải quyết theo các quy định áp dụng đối với nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

* Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ° Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, quyền kết hôn là một quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình của cá nhân. Cá nhân thực hiện quyền kết hôn theo quy định của Bộ luật Dan sự, Luật HN&GD và luật khác có liên quan. Theo đó, muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thâm quyền. Khi cơ quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn, ghi vào số hộ tịch và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho họ thì giữa hai bên mới phát sinh quan hệ vợ chong.

Một số vấn đề khái quát về mô hình kết hôn từ xa 1.Quan điểm về mô hình kết hôn từ xa Mô hình kết hôn từ xa là một mô hình rất mới ở Việt Nam. Từ trước đến nay, mọi người dân Việt Nam đều đăng ký kết hôn theo mô hình truyền thống tại Ủy ban nhân dân tại địa phương với các thủ tục, giấy tờ như đã được nêu ở phần trên. Việc xuất hiện một thuật ngữ mới về một hình thức mới chưa được pháp luật quy định rõ ràng, vô hình chung khiến mọi người cảm thấy lạ lẫm và mới mẻ. Trong một khảo sát về mô hình kết hôn từ xa do nhóm nghiên cứu thực hiện, chúng tôi có mở ra câu hỏi để đánh giá độ hiểu biết phổ biến của mọi người đối với thuật ngữ “Kết hôn từ xa”: Anhichi đã bao giờ nghe tới thuật ngữ "KẾT HON TỪ XA" chưa? 123 câu trả lời @ đã từng nghe qua chưa từng nghe qua Hình 1.

Biéu đô khảo sát mức độ hiếu biết về kết hôn từ xa. Theo kết quả tại biểu đô, trên tổng số 123 câu trả lời thì có tới 62,6% người tham gia nói rằng là “chưa từng nghe qua” và chỉ có 37,4% người được hỏi nói răng “đã từng nghe qua” về thuật ngữ này. Điều này cho thay mức độ phổ biến của mô hình này còn thâp, chưa thực sự được mọi người biệt đên va đê ý. Qua đó, ta cũng có thê 10 thấy nhiều hơn răng việc người dân tự tìm hiểu về các quy định pháp luật cũng như các thủ tục phục vụ cho chính nhu cầu của họ là chưa cao, thể hiện rõ sự thiếu quan tâm dẫn đến việc không hiểu đúng va đủ những quyền, lợi ích mà họ có.

Trong biéu mẫu khảo sát, nhóm nghiên cứu có đưa ra một câu hỏi dudi dạng câu trả lời ngắn như sau: Theo anh/chi, mô hình kết hôn từ xa được hiểu là gì?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu kết hôn từ xa: Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng tại Việt Nam trong đại dịch COVID-19 là một tài liệu chuyên sâu khám phá xu hướng kết hôn từ xa trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các mô hình và kinh nghiệm quốc tế mà còn đề xuất cách áp dụng hiệu quả tại Việt Nam. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các thách thức và cơ hội của việc kết hôn từ xa, cũng như những tác động xã hội và pháp lý liên quan. Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý và xã hội, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Bình hoặc Luận văn thạc sĩ luật học đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Nếu quan tâm đến các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong nghiên cứu, hãy khám phá Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.