Chương I: Cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng kế toán tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ thành phẩm tại Công ty CP đầu tư thương mại Công nghiệp Hà Nội. Chương III: Một số nhận xét và giải pháp hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ thành phẩm tai Công ty CP đầu tư thương mại Công nghiệp Hà Nội. Mặc dù trong quá trình tìm hiểu đồng thời nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo công ty và sự chỉ bảo của thầy cô hướng dẫn khóa luận, em cũng đã rất cô gang phan nào năm được thực tế tại công ty.
Tuy nhiên do trình độ, kiến thức và thời gian tiếp cận han hẹp nên còn có nhiều điều thiếu xót. Em ratmong nhận được sự chỉ bảo và góp ý của các thầy cô cho bài báo cáo thực tập của em được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin gửi lời chúc đến toàn thé quý thầy cô, chúc thầy cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Em xin chân thành cảm ơn! Đặng Thị Ngọc Quỳnh — Dang Thi Ngoc Quynh 12 Trường Đại học Kinh tế T.
Đậu Hoang Hưng CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KE TOÁN TIỂU THU THÀNH PHAM VA KET QUÁ TIEU THU THÀNH PHAM TRONG QUÁ TRINH SAN XUAT.Téng quan về tiêu thụ thành phẩm va xác định kết qua tiêu thu thành phẩm.Khái niệm a) Thành phẩm Thành phẩm là những sản phâm đã hoàn thành quá trình sản xuất, chế biến do các bộ phận sản xuất hàng hóa của doanh nghiệp tự làm hoặc thuê bên ngoài gia công xong. b) Tiêu thụ thành phẩm Bước tiếp theo của quá trình sản xuất là tiêu thụ thành phẩm. Đây là việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng do doanh nghiệp sản xuất ra, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Quá trình tiêu thụ thành phẩm là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất, phân phối và một bên là tiêu dùng.
Xét trên góc độ lưu chuyên vốn thì tiêu thụ thành phẩm được gọi là khâu cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được chuyền từ hình thái hiện vật là thành phẩm sang hình thái giá trị tiền tệ, từ đó doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp được chi phí và có nguồn tích lũy dé mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh + Qua trình tiêu thụ thành phẩm có một số đặc điểm như sau: — Có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán về sô lượng, chât lượng, giá bán, quy cách, hình thức thanh toán của sản phẩm. — Có sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng từ người bán sang người mua. — Khi giao hàng cho người mua, người bán nhận được tiền hoặc được chấp nhận thanh toán.
Khoản tiền này gọi là doanh thu bán hàng, được dùng dé bù đắp chi phí đã bỏ ra và hình thành nên kết quả bán hàng trong kỳ của doanh nghiệp. c) Xác định kết quả tiêu thụ — Dang Thi Ngoc Quynh 13 Trường Đại học Kinh tế T. Đậu Hoang Hưng Xác định kết quả tiêu thụ là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và thu nhập từ hoạt động tiêu thụ đã thu về trong kỳ. Nếu chi phí nhỏ hơn thu nhập thì kết quả bán hàng là lãi, chi phí lớn hơn thu nhập thì kết quả bán hàng là lỗ.
Việc xác định kết quả tiêu thụ thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.Vai trò của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ “Tiêu thụ đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi doanh nghiệp mà cả sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Đối với bản thân doanh nghiệp có bán được hang thi mới có thu nhập dé bù đắp những chi phí bỏ ra, có điều kiện dé mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao đời sống của người lao động, tạo nguồn tích lũy cho nền kinh tế xã hội. Việc xác định chính xác kết quả tiêu thụ là cơ sở dé xác định chính xác hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, xác định cơ cấu chỉ phí hợp lý và sử dụng có hiệu quả cao số lợi nhuận thu được giải quyết hài hòa giữa các lợi ích kinh tế: Nhà nước, tập thể và các cá nhân người lao độdoa” 1.Các phương thức tiêu thụ. Phương thức tiêu thụ là cách thức doanh nghiệp chuyên quyền sở hữu thành phẩm cho khách hàng và thu được tiền hoặc được quyền thu tiền về số lượng thành phẩm tiêu thụ.
% Hoạt động tiêu thụ thành phẩm của các doanh nghiệp sản xuất có thể thực hiện qua các phương thức sau. Phương thức giao hàng trực tiếp “Giao hàng trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho (hoặc trực tiếp tại phân xưởng sản xuất) của doanh nghiệp. Khi bàn giao cho khách hàng được khách hàng trả tiền hay chấp nhận thanh toán, số hàng này chính thức được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mat quyền sở hữu về số thành phâm đó. Phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận “Căn cứ vào hợp đồng đã ký, đến ngày giao hàng, doanh nghiệp sẽ xuất kho dé chuyên hàng cho bên mua bằng phương tiện của mình hoặc đi thuê ngoài đến địa điểm — Dang Thi Ngoc Quynh 14 Trường Đại học Kinh tế T.
Đậu Hoang Hưng đã ghi trong hợp đồng. Chi phí vận chuyên này do bên nào chịu tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên và được ghi trong hợp đồng kinh tế. Hàng gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu doanh nghiệp. Khi người mua thông báo đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì số hàng đó được coi là tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán vào doanh thu.
Phương thức bán hàng qua đại lý, ký gửi — Hàng gửi bán đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và chưa được coi là đã tiêu thụ. Doanh nghiệp chỉ được hạch toán vào doanh thu khi hàng đã chính thức tiêu thụ (bên nhận đại lý thông báo và lập bảng kê đã bán được hàng). Khi bán được hàng, doanh nghiệp phải trả cho bên nhận đại lý một khoản hoa hồng. Khoản tiền này sẽ được hạch toán vào chi phí bán hàng.
Theo quy định, doanh nghiệp sẽ chịu toàn bộ phần thuế GTGT của số hàng gửi đại lý được bán theo đúng phía doanh nghiệp quy định. Nếu đại lý hưởng khoản chênh lệch giá thì bên nhận đại lý sẽ chịu thuế GTGT tính trên phần chênh lệch. — Đối với bên nhận đại lý, hàng nhận bán không thuộc quyền sở hữu của đại lý. Nếu bán được hàng, bên nhận đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá và hạch toán vào doanh thu.
Phương thức bán hàng trả góp “Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyền giao được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mắt quyền sở hữu lượng hàng đó. Người mua sẽ trả tiền làm nhiều lần theo hợp đồng ban đầu và giá bán bao giờ cũng cao hơn giá bán theo phương thức thông thường. Phần chênh lệch này chính là tiền lãi phát sinh do khách trả chậm, trả nhiều lần. Số tiền lãi này được phân bồ dần vao thu nhập của hoạt động tài chính.
Doanh nghiệp bán hàng được phản ánh doanh thu ngay tại thời điểm giao hàng cho khách hàng theo giá bán lẻ bình thường. Người mua sẽ thanh toán lần đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận thanh toán dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định. Thông thường số tiền thanh toán ở các kỳ băng nhau, trong đó một phần là nợ gốc, một phần là lãi trả chậlà” — Dang Thi Ngoc Quynh 15 Trường Đại học Kinh tế T.
Đậu Hoang Hưng 1.Các phương thức thanh toán % Sau khi bán được hàng, bên bán có thé nhận tiền hàng theo nhiễu phương thức khác nhau tuy vào sự thoả thuận giữa 2 bên. Có 3 phương thức thanh toán có thé được lựa chon: 1.Phương thức thanh toán nga Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ được chuyên từ người mua sang người bán sau ngay khi hàng hóa được bán. Thanh toán trực tiếp có thê bằng tiền mặt, séc hoặc có thé bằng hàng hoá (nếu bán theo phương thức hàng đôi hàng). Theo phương thức thanh toán này thì sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
Phương thức thanh toán trả chậm Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyên giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm hàng hoá được bán. Từ phương thức thanh toán này hình thành nên khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo phương thức thanh toán này thì sự vận động của hàng hoá, sự vận động của tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian. Phương thức thanh toán trả trước Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyên giao trước thời điểm được bán.
Mục đích của việc thanh toán trước là để chắc chắn việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa của khách hàng. Như vậy, theo phương thức thanh toán này thì sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cảnh về không gian và thời gian.Ké toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ 1.Kế toán doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu 1.Kế toán doanh thu. Theo chuẩn mực số 14 (VAS 14) về doanh thu và thu nhập khác ban hành ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính: “Doanh thu là giá trị gộp của các lợi ích kinh tế mà doanh — Dang Thi Ngoc Quynh 16 Trường Đại học Kinh tế T. Đậu Hoang Hưng nghiệp đạt được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thương của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu = Số lượng hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ trong ky x Don giá % Doanh thu bán hàng được xác định khi đáp ứng dong thời các điều kiện sau: — _ Doanh nghiệp chuyền giao phần lớn rủi ro, lợi ích gắn với quyền sở hữu sản phẩm. — Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý, quyền kiểm soát sản phẩm. — Doanh thu xác định tương đối chắc chan. — Doanh nghiệp đã thu hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
— Doanh nghiệp xác định được chỉ phí liên quan đến bán hàng.