CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.1 Lý thuyết chung về kế toán các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp.1 Một số khái niệm, định nghĩa cơ bản.1 Khái niệm về tiền lương. -Tại điều 55, chương IV “ tiền lương” của Bộ Luật lao động ban hành năm 1994 có ghi “ Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc” -Theo giáo trình kế toán tài chính 2 – đại học Thương Mại “ Tiền lương hay tiền công là phần thù lao động để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của công nhân viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lương ( tiền công) gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân đã tham gia, thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” Trong doanh nghiệp sản xuất tiền lương một mặt là một khoản chi phí sản xuất hình thành nên giá trị sản phẩm, một mặt nhằm bù đắp lại hao phí sức người lao động của người lao động để tái tạo ra sức lao động mới nhằm tiếp tục quá trình sản xuất. Nói tóm lại, tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
-Cần phần biệt hai khái niệm tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa Tiền lương danh nghĩa: là số tiền người lao động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng xuất người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc…ngay trong quá trình lao động. Tiền lương thực tế: là số lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động được hưởng lương và có thế mua được bằng tiền lương thực tế đó .2 Các khoản trích theo lương. Ngoài tiền lương người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp bao gồm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn, Bảo hiểm thất nghiệp.
-Bảo hiểm xã hội: là chính sách xã hội quan trọng của Đảng và nhà nước. Bảo hiểm xã hội là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không có khả năng làm việc. Khoản 1 điều 3 luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đưa ra khái niệm về bảo hiểm xã hội như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.” Bảo hiểm xã hội gồm: bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện + Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. + Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.
-Bảo hiểm y tế: hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh. -Kinh phí công đoàn: là khoản tiền để duy trì hoạt động các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống người lao động. -Bảo hiểm thất nghiệp: là một biện pháp hỗ trợ người lao động giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho người lao động trong thời gian chưa tìm kiếm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.3 Các khoản phải thanh toán khác Các khoản phải thanh toán khác bao gồm Thuế thu nhập cá nhân, quỹ thiền thưởng, quĩ phụ cấp, quĩ phúc lợi và các khoản khác.
- Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế trực thu đánh trên một số khoản thu nhập của cá nhân mà cá nhân phải trích nộp vào ngân sách nhà nước 5 Luan van - Qũy tiền thưởng: khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động , là khoản thù lao bổ sung cho tiền lương để trả cho những yếu tố mới phát sinh trong quá trình lao động (tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, sáng kiến…) chưa tính đến trong mức lương theo chức danh hoặc theo công việc, có tác dụng kích thích mạnh mẽ người lao động phấn đấu và sáng tạo trong quá trình lao động, bảo đảm sự công bằng trong lĩnh vực trả lương… - Qũy phụ cấp: Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ. Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả thực hiện công việc của người lao động. Phụ cấp lương bao gồm 8 loại sau:Phụ cấp chức vụ, chức danh. Phụ cấp trách nhiệm.
Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Phụ cấp thâm niên. Phụ cấp khu vực. Phụ cấp lưu động.
Phụ cấp thu hút. Phụ cấp có tính chất tương tự. -Qũy phúc lợi: là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động ngoài lương, thưởng, trợ cấp. Qũy phúc lợi có dụng động viên tinh thần của công nhân, làm cho người lao động gắn bó với doanh nghiệp , nâng cao đời sống vật chất, tinh thần -Các khoản khác: Khoản bồi thường vật chất: trong quá trình sản xuất, người lao động là hư hại tài sản của công ty, hoặc làm mất mát, thất thoát tìa sản thì bồi thường theo qui định của công ty Tiền tạm ứng khấu trừ vào lương: gồm tạm ứng tiền lương vì lý do công việc, mà chưa sử dụng hết hoặc tmaj ứng tiền lương tháng sẽ được khấu trừ trực tiếp vào tiền lương.
Ngoài ra, còn các khoản như: tiền điện, nước, thuê nhà do công ty trả cho người lao động.2 Nội dung và phương pháp tính các khoản thanh toán với người lao động. *Tiền lương: - Tiền lương phải trả cho người lao động bao gồm: lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp mãng tính chất lương theo qui định của nhà nước và doanh nghiệp trong đó : 6 Luan van +Lương chính: là khoản tiền lương chủ yếu trả cho người lao động được xác định vào ngạch bậc chuyên môn kỹ thuật, chức trách nhiệm vụ, khối lượng công việc được giao của người lao động, và theo thang bậc lương theo qui định của nhà nước hoặc doanh nghiệp, hoặc là tiền lương phải trả theo hợp đồng lao động đã ký kết giữa lao động và doanh nghiệp. +Lương phụ: là khoản tiền lương trả thêm cho người lao động trong thời gian không thực hiện nhiệm vụ chính những vẫn được hưởng theo qui định. Ví dụ: lương trả cho người lao động trong thời gian doanh nghiệp cử đi học.
Lương phụ được xác định trên cơ sở khối lượng, tính chất và chất lượng công việc được giao căn cứ vào mức lương cơ bản của người lao động. + Các khoản phụ cấp mang tính chất lương: là các khoản tiền trả thêm cho người lao động do đảm nhiệm thêm các trách nhiệm quản lý hoặc làm việc trong các ngành độc hại hoặc làm ca đêm… Tiền thưởng: là những khoản thu nhập ngoài lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động do hoàn thành tốt hoặc có những thành tích xuất sắc trong khi thực hiện các nhiệm vụ được giao, mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Tiền thưởng được chia làm 2 loại: tiền thưởng mang tính chất lương và không mang tính chất lương: tiền thưởng mang tính chất lương là khoản tiền thưởng gắn với số lượng chất lượng của người lao động như thưởng tiết kiệm chi phí, thưởng nâng cao năng suất… Ngoài ra, trong quá trình lao động tại doanh nghiệp, người lao động còn có các khoản thanh toán khác như: thanh tóa thuộc quĩ phúc lợi, quĩ dự phòng trợ cấp mất việc làm…hoặc các khoản phải trả cho doanh nghiệp - Các hình thức trả lương: Trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay có 2 hình thức trả lương chủ yếu là: + Trả lương theo thời gian: tiền lương phải trả cho người lao động được căn cứ vào tiền lương cơ bản hoặc hợp đồng và số ngày làm việc của người lao động trong tháng Đơn giá tiền lương ngày = tiền lương cơ bản hoặc hợp đồng : số ngày làm việc bình quân trong tháng 7 Luan van Tiền lương phải trả cho người lao động trong tháng = số ngày làm việc thực tế của người lao động trong tháng x Đơn giá tiền lương ngày + Trả lương theo sản phẩm: là hình thức trả lương căn cứ vào khối lượng sản phẩm, công việc đã thực hiện trong kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh để xác định. Doanh nghiệp trả lương theo sản phẩm thì tổng quĩ lương được xác định theo công thức: Tổng quĩ lương sản phẩm = số lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành hoặc doanh thu thực hiện x đơn giá tiền lương khoán.
Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất thường trả lương khoán theo khối lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành hoặc đã tiêu thụ. Còn trong các doanh nghiệp thương mại và kinh doanh dịch vụ thường áp dụng trả lương theo doanh số hoặc thu nhập. *Các khoản trích theo lương: Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, ngoài việc tính lương phải trả người lao động, doanh nghiệp còn phải tính trích theo lương 1 số khoản như BHXH, BHYT, BHTN, KPCD theo qui định mới nhất: quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam áp dụng từ 1/1/2018. - BHXH: nguồn hình thành BHXH chủ yếu được trích lập theo tỷ lệ % tính trên tiền lương phải trả cho người lao động.
Trong đó doanh nghiệp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một phần, một phần người lao động phải nộp. Theo qui định hiện hành, các doanh nghiệp phải trích BHXH 17.5% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, và thu từ người lao động 8% tính trên lương cơ bản.