CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP. Các khái niệm và yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng. Một số khái niệm cơ bản về kế toán bán hàng.
Các khái niệm về bán hàng. Khái niệm bán hàng: Bán hàng được hiểu là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một DNTM. Nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua (Giáo trình kinh tế DNTM, tr101Ths. Trần Thúy Lan).
Bán buôn hàng hóa Bán buôn hàng hoá là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại,các doanh nghiệp sản xuất….đặc điểm của hàng hoá bán buôn là hàng vẫn còn nằm trong khâu lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Hàng thường được bán theo lô hoặc bán với số lượng lớn. Lưu chuyển hàng hoá bán buôn theo hai hình thức: - Bán buôn qua kho: Hàng hoá được mua và dự trữ trước trong kho, sau đó mới xuất ra bán. Có hai hình thức + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp (bán hàng tại kho) + Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng - Bán buôn không qua kho (Bán buôn vận chuyển thẳng): lúc này hàng hoá được mua đi bán lại ngay mà không phải qua thủ tục nhập xuất kho của doanh nghiệp.
Có hai hình thức + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (hình thức giao tay ba + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng Bán lẻ hàng hóa. Là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng. Có bốn hình thức. SVTH: Phan Thị Liên- SB14D 5 Khoa: Kế toán- kiểm toán Luan van GVHD: TS Vũ Tuấn Duy Khóa luận tốt nghiệp - Hình thức bán hàng thu tiền tập trung: Theo hình thức này nhân viên bán hàng phụ trách việc quản lý hàng, giao hàng, thu tiền do nhân viên khác đảm nhiệm.
Cuối ngày hay cuối ca, nhân viên thu tiền lập phiếu nộp tiền, nhân viên bán hàng lập báo cáo bán hàng. - Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách hàng. Hết ca, hết ngày bán hàng,nhân viên bán hàng nộp tiền cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền bán hàng. Sau đó, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
- Hình thức bán hàng tự phục vụ: Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, trước khi ra khỏi cửa hàng mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền nhập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này phổ biến ở các siêu thị. - Hình thức bán hàng trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần.
Lúc này, DNTM còn được thu thêm phần lãi tiền hàng do trả chậm của khách hàng. Theo hình thức này, DNTM giao hàng cho cơ sở đại lý. Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán tiền hàng cho DNTM và sẽ hưởng phần hoa hồng tương ứng với số hàng bán ra. Hàng giao bên đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM, bên đại lý phải nộp thuế GTGT đối với khoản tiền hoa hồng nhận được từ hoạt động đại lý.
Đại lý khi bán hàng sẽ lập hoá đơn GTGT của cơ sở đại lý.Định kì lập bảng kê hàng bán ra (theo mẫu số 02/GTGT) gửi cho doanh nghiệp để doanh nghiệp lập hoá đơn GTGT cho hàng hoá thực tế đã tiêu thụ. Các khái niệm về doanh thu bán hàng. Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu giảm trừ bao gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, SVTH: Phan Thị Liên- SB14D 6 Khoa: Kế toán- kiểm toán Luan van GVHD: TS Vũ Tuấn Duy Khóa luận tốt nghiệp - Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với số lượng lớn.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. - Doanh thu hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Doanh thu thuần về bán hàng: là số chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ doanh thu. Khoản doanh thu thuần này có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ban đầu do các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại.
Khái niệm về giá gốc, giá vốn hàng bán. *) Giá gốc hàng mua đã bán: Chi phí chế biến, chi phí thu mua và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho tại vị trí và trạng thái như hiện tại. - Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định ( chi phí khấu hao máy móc nhà xưởng…) và chi phí sản xuất chung biến đổi ( chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp) trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm. - Chi phí mua hàng tồn kho bao gồm giá mua, các khoản thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bục xếp và bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc thu mua hàng tồn kho trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua do hàng không đúng phẩm chất quy cách.
- Chi phí liên quan trực tiếp khác là những chi phí khác ngoài chi phí thu mua và chi phí chế biến ví dụ như chi phí thiết kế cho một đơn đặt hàng cụ thể. *) Giá vốn hàng xuất bán của doanh nghiệp thương mại chính là trị giá mua của hàng hoá cộng với chi phí mua hàng phân bổ cho hàng xuất kho trong kỳ. SVTH: Phan Thị Liên- SB14D 7 Khoa: Kế toán- kiểm toán Luan van GVHD: TS Vũ Tuấn Duy Khóa luận tốt nghiệp Theo nguyên tắc phù hợp khi ghi nhận doanh thu và chi phí, khi ghi nhận doanh thu đồng thời phải ghi nhận giá vốn hàng bán. Giá vốn hàng bán: Là giá gốc của hàng xuất kho để bán Hàng tồn kho được tính theo giá gốc.
Giá gốc của hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nghiệp vụ bán hàng 1. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng Trong quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ. Do đó để quản lý nghiệp vụ bán hàng, các doanh nghiệp thương mại cần phải quản lý chặt cả hai mặt tiền và hàng, cụ thể quản lý nghiệp vụ bán hàng cần phải đảm bảo các chỉ tiêu sau: - Quản lý về doanh thu bán hàng hóa, đây là cơ sở quan trọng để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý doanh thu bao gồm: + Quản lý tổng doanh thu: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá bán ghi trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng. + Quản lý doanh thu theo địa điểm bán + Quản lý doanh thu theo phương thức hình thức bán: + Quản lý doanh thu theo từng lần bán - Quản lý giá vốn hàng bán + Quản lý tổng giá vốn + Quản lý giá vốn theo địa điểm bán + Quản lý giá vốn theo phương thức hình thức bán +Quản lý giá vốn theo từng lần bán - Quản lý tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua. Kế toán phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng để kịp thời thu SVTH: Phan Thị Liên- SB14D 8 Khoa: Kế toán- kiểm toán Luan van GVHD: TS Vũ Tuấn Duy Khóa luận tốt nghiệp hồi tiền ngay khi đến hạn để tránh bị chiếm dụng vốn kinh doanh. Phải quản lý giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ, đây cũng là cơ sở để xác định kết quả bán hàng.
+ Quản lý tổng công nợ + Quản lý theo từng khách hàng + Quản lý theo từng nghiệp vụ 1. Nhiệm vụ kế toán nghiệp vụ bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Vì vậy để quản lý tốt nghiệp vụ này, kế toán nghiệp vụ bán hàng cần phải thực hiện các nhiệm vụ: - Ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp cả về số lượng, cả về giá trị theo từng mặt hàng, nhóm hàng. - Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua. - Tính toán chính xác giá vốn cảu hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chính xác kết quả của bán hàng.
- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ sở đó có những biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho ban giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường. Định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu nhập và phân phối kết quả của doanh nghiệp. Một số lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ bán hàng. Sự chi phối của VAS đến kế toán bán hàng 1.
Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng và xác định doanh thu bán hàng theo quy định của VAS14 “Doanh thu và thu nhập khác”.