Chương I: Tổng quan nghiên cứu kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại. Chương II: Những lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán bán nhóm hàng xi măng Thăng Long tại Công ty Cổ phần Thương mại đầu tư và xây dựng TICC Thăng Long. Chương IV: Kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán nhóm hàng xi măng Thăng Long tại Công ty Cổ phần Thương mại đầu tư và xây dựng TICC Thăng Long.
SV: Trần Thị Huyền Trang HK1D-K5 GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành MSV: 09E150502 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Trường ĐH Thương Mại CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.1 Một số khái niệm, định nghĩa cơ bản về kế toán bán hàng Theo Chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” trong Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam thì bán hàng được định nghĩa là: “Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào”. Như vậy, bán hàng có thể được hiểu là tài sản trong doanh nghiệp sẽ chuyển từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ. Doanh nghiệp sẽ mất quyền sở hữu về hàng hoá nhưng lại được quyền sở hữu về tiền tệ hoặc được quyền thu tiền của người mua. Theo giáo trình “Kế toán tài chính” do GS.TS Ngô Thế Chi và TS.
Trương Thị Thuỷ đồng chủ biên, NXB Tài chính năm 2010 thì khái niệm bán hàng được nêu như sau: “Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng sản phẩm, hàng hoá gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất – kinh doanh, đây là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán”. Ngoài ra, cũng theo Chuẩn mực số 14 thì một số khái niệm về kế toán bán hàng được hiểu như sau: Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. SV: Trần Thị Huyền Trang HK1D-K5 GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành MSV: 09E150502 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Trường ĐH Thương Mại Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán hàng giảm trừ cho người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng. Doanh thu thuần: Là chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp cho hàng đã tiêu thụ, thuế GTGT của hàng đã tiêu thụ nếu DN tính thuế theo phương pháp trực tiếp.
Giá vốn hàng bán: Là trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ. Đối với DNTM thì giá vốn được hình thành trên cơ sở giá mua của số hàng hoá đã bán trong kỳ. Các phương thức bán hàng chủ yếu trong DNTM là bán buôn, bán lẻ. Bán buôn hàng hóa là phương thức bán mà kết thúc quá trình bán hàng, hàng hoá vẫn còn trong lưu thông.
Căn cứ vào địa điểm nhận và giao hàng, bán buôn được chia thành các hình thức sau: Bán buôn qua kho và bán buôn vận chuyển thẳng. Trong đó, bán buôn qua kho được chia thành bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng; còn bán buôn vận chuyển thẳng được chia thành bán hàng vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (còn gọi là hình thức giao tay ba) và bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng. Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về để tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm của phương thức bán lẻ là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng.
Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau: Hình thức bán hàng thu tiền tập trung, hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp, hình thức bán hàng tự phục vụ. Ngoài ra còn có các phương thức bán hàng khác như phương thức gửi bán đại lý; phương thức bán hàng trả góp, trả chậm. Theo phương thức gửi bán đại lý thì DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán tiền cho DNTM và được hưởng hoa hồng đại lý bán.
SV: Trần Thị Huyền Trang HK1D-K5 GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành MSV: 09E150502 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Trường ĐH Thương Mại Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp là phương thức mà DNTM dành cho người mua ưu đãi được trả tiền hàng trong kỳ. DNTM được hưởng thêm khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền ngay gọi là lãi trả góp.2 Nội dung yêu cầu quản lý bán hàng trong doanh nghiệp Quản lý bán hàng là quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch đối với từng thời kỳ, từng kế hoạch, từng hợp đồng kinh tế, quản lý về số lượng, chất lượng mặt hàng, thời gian tiêu thụ, cơ cấu mặt hàng tiêu thụ, trị giá vốn của mặt hàng tiêu thụ, tình hình thanh toán tiền hàng của khách hàng, và tình hình thanh toán những khoản phải trích nộp vào ngân sách Nhà nước. Thông qua bán hàng, vốn của doanh nghiệp mới chuyển hoá từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn tiếp tục quá trình kinh doanh với quy mô lớn hơn và với hiệu quả cao hơn. Chính vì vậy bán hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên phải quản lý chặt chẽ.1 Quản lý doanh thu bán hàng Doanh thu phải được xác định và ghi nhận theo đúng thực tế tiêu thụ hàng hóa và quy định của chế độ kế toán (điều kiện ghi nhận doanh thu và thời điểm ghi nhận doanh thu).
Phản ánh và theo dõi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại, các khoản thuế,. một cách đầy đủ chính xác và kịp thời. Doanh thu bán hàng được tính bằng công thức: Doanh thu Số lượng hàng hoá Đơn giá bán một = x bán hàng Tiêu thụ đơn vị hàng hoá - Về khối lượng hàng hóa tiêu thụ: phải nắm bắt chính xác số lượng từng loại hàng hóa tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ, xuất bán trong kỳ. - Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng.
- Về giá bán: giá bán phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi, đồng thời phải được khách hàng chấp nhận. Giá bán cần có sự linh hoạt để kích thích tiêu thụ, phù hợp với từng điều kiện cụ thể. SV: Trần Thị Huyền Trang HK1D-K5 GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành MSV: 09E150502 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Trường ĐH Thương Mại Để đáp ứng yêu cầu quản lý doanh thu các DN cần phải tổ chức kế toán chi tiết từng khoản doanh thu. Việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu cần được tiến hành trên các sổ chi tiết, các TK kế toán chi tiết.
- Sổ chi tiết doanh thu được mở riêng cho từng loại hoạt động; từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ; từng nghiệp vụ đầu tư tài chính. - Các DN có hoạt động xuất khẩu còn phải mở sổ chi tiết doanh thu hàng xuất khẩu. Đồng thời nếu hàng hoá bán phải chịu các thuế suất khác nhau thì phải mở sổ chi tiết theo dõi doanh thu theo từng loại thuế suất. - Tuỳ theo yêu cầu quản lý doanh thu của từng DN mà sổ chi tiết có thể mở theo kết cấu không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên, các sổ chi tiết doanh thu phải đảm bảo được các nội dung chính sau: Ngày tháng ghi sổ; số hiệu và ngày lập chứng từ; tóm tắt nội dung chứng từ; TK đối ứng; số lượng, đơn giá, thành tiền của sản phẩm tiêu thụ; các khoản giảm trừ doanh thu.2 Quản lý tình hình thu hồi tiền bán hàng, tình hình công nợ phải thu - Phải mở sổ chi tiết theo từng đối tượng phải thu và theo từng khoản nợ và từng lần thanh toán. - Trường hợp bán hàng thu tiền ngay thì không phản ánh vào nợ phải thu. - Khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên hoặc có dư Nợ lớn thì định kỳ cần phải tiến hành kiểm tra đối chiếu từng khoản nợ đã phát sinh, đã thu hồi và số còn nợ, nếu cần có thể yêu cầu khách hàng xác nhận nợ bằng văn bản. - Phải tiến hành phân loại nợ: Loại nợ có thể trả đúng hạn, quá hạn, nợ khó đòi hoặc không có khả năng thu hồi để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng hoặc có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được.3 Quản lý giá vốn hàng bán Quá trình vận động của hàng hoá ở DN chính là quá trình vận động của vốn kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho DN, thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng sao cho có hiệu quả nhất nguồn vốn của DN. Muốn vậy DN phải xác định được một cách chính xác nhất các SV: Trần Thị Huyền Trang HK1D-K5 GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành MSV: 09E150502 Luan van Luận văn tốt nghiệp 9 Trường ĐH Thương Mại khoản chi phí chi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và xác định đúng giá vốn thì trước hết DN phải nắm được sự hình thành của giá vốn.