phần mở đầu, luận văn có kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự Chƣơng 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự. Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện việc kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận long biên, thành phố Hà Nội và một số kiến nghị. 13 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự và kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Khái niệm thi hành án dân sự Theo đại từ điển tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định”1. Nhƣ vậy, thi hành án có thể đƣợc hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Bản án quyết định của Tòa án đƣợc hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nƣớc tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính.
Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt đảm bảo thực hiện quyền tƣ pháp của Nhà nƣớc, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nƣớc là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức và công dân bị xâm hại. Vì vậy, nếu hiểu một cách cụ thể thì THA đƣợc hiểu là: Việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, theo quy định của pháp luật thực hiện bản án, quyết định của Tòa án hoặc của cơ quan, tổ chức khác đã ban hành, nhằm phát huy hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định đó trên thực tế. Hoạt động THADS nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự. Tuy nhiên, việc xác định bản chất của THADS vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn.
Hiện còn có những ý kiến rất khác nhau về khái niệm này nhƣng tựu chung những ý kiến đó đều xoay quanh các quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, THADS là một giai đoạn tố tụng dân sự bởi nếu tách THADS ra thì sẽ không thực hiện đƣợc mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng dân sự. Khi chân lý đƣợc làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa 1 Từ điển Tiếng Việt, GS Hoàng Phê (chủ biên), nxb Hồng Đức, năm 2015 14 án thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ. Muốn nó đƣợc thực hiện trên thực tế cần phải chờ ở hiệu quả của công tác THA. Vì vậy, THADS là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử.
Ở giai đoạn này, cơ quan THA áp dụng các biện pháp đƣợc pháp luật quy định để đƣa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế. Xét xử và THADS là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đƣơng sự2. Quan điểm thứ hai cho rằng, THADS là dạng hoạt động của hoạt động hành chính. Theo quan niệm này thì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành, mà điều hành và chấp hành là đặc trƣng của hoạt động hành chính.
Mặt khác, THADS ở nƣớc ta lại không do Tòa án - cơ quan tƣ pháp tổ chức.3 Quan niệm thứ ba cho rằng, THADS là một dạng của hoạt động hành chính - tƣ pháp vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án – cơ quan tƣ pháp. Hơn nữa, trong quá trình THADS còn phải tiến hành các hoạt động mang tính hành chính nhƣ chứng thực bản sao giấy tờ, việc ủy quyền THADS4 … Có thể thấy, quan niệm THADS là một giai đoạn của tố tụng dân sự nhƣ quan điểm thứ nhất là chƣa chính xác. Bởi vì, tố tụng là quá trình giải quyết các vụ việc theo quy định của pháp luật, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhƣng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình ban hành bản án, quyết định. Còn THA diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án.
Bản án, quyết định của Tòa án là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA. Ngoài ra, mục đích của hoạt động THA cũng khác với mục đích của tố tụng. Tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đƣa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định pháp luật. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và đảm bảo các nguyên tắc nhƣ: bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của ngƣời tham gia tố tụng….
và khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc. Trong khi đó, THA không nhằm giải quyết về nội dung vụ việc mà áp dụng các biện pháp cần thiết để tổ chức và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Nhƣ vậy, THA có sự độc lập tƣơng đối với 2 Nguyễn Công Bình (1998), “Mấy vấn đề về THADS trong việc soạn thảo Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học số 5, Hà Nội. 3 Công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nƣớc “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lí thuộc Bộ tƣ pháp chủ trì, tr.13 4 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
15 việc giải quyết vụ việc của Tòa án nên không đƣợc coi là một giai đoạn của tố tụng. THA là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử của Tòa án, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn trƣớc đó. Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tƣơng đối thể hiện ở chỗ các quyết định do cơ quan, tổ chức THADS, chấp hành viên, thừa phát lại ban hành mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan. Các cơ quan, tổ chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để THA đạt hiệu quả.
Tuy nhiên, nếu chỉ vì đặc điểm chấp hành này của hoạt động THADS mà quan niệm THADS là hoạt động hành chính nhƣ quan điểm thứ hai thì không hoàn toàn chính xác. Bởi vì, trong quá trình THADS các đƣơng sự có quyền yêu cầu THA, thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phƣơng thức, nội dung THA. Trong khi đó một quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật thì không thể có việc đối tƣợng bị áp dụng lại có quyền lựa chọn có thực hiện quyết định đó hay không cũng nhƣ thỏa thuận để làm thay đổi nội dung của quyết định. Do đó, cần nhìn nhận THADS là hoạt động hành chính - tƣ pháp nhƣ quan điểm thứ ba là phù hợp và thể hiện đƣợc những đặc tính chung nhất của THADS.
Bởi lẽ: - THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức khác đã có hiệu lực pháp luật. Hay nói cách khác, cơ sở để tiến hành hoạt động THADS dựa vào các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức khác. - THADS mang tính chấp hành nhƣng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc ngƣời có nghĩa vụ đƣợc xác định trong bản án, quyết định dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm cho các phán quyết đƣợc ghi trong bản án, quyết định dân sự đƣợc thi hành trên thực tế chứ không phải là ban hành văn bản áp dụng pháp luật.
- Đối tƣợng để đƣa ra THADS chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự liên quan đến tài sản - đặc trƣng của quan hệ dân sự. Trên thực tế, phần lớn các bản án, quyết định dân sự đƣợc đƣa ra thi hành đều quyết định các vấn đề tài sản nên việc THADS đƣợc phát động dựa trên yêu cầu của đƣơng sự, các đƣơng sự có quyền tự định đoạt trong quá trình THA. 16 - Trong quá trình THADS, các bên có quyền tự định đoạt, tự quyết định và thỏa thuận với nhau về việc thi hành bản án, quyết định dân sự - đặc điểm đặc trƣng của quan hệ dân sự. Nhƣ vậy có thể khẳng định: THADS là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức THADS tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật THADS quy định để đưa bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành thực hiện trên thực tế nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Cƣỡng chế là một tính chất cơ bản của pháp luật. Tính chất cƣỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức và phong tục. Theo Lênin thì pháp luật sẽ không còn là gì nữa "nếu không có một bộ máy có đủ sức cƣỡng bức ngƣời tatuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng nhƣ không"5. Các quy tắc đạo đức, phong tục đƣợc con ngƣời tuân thủ, chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và lên án của xã hội; còn quy phạm pháp luật đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thìNhà nƣớc cƣỡng chế thi hành.
Sự cƣỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục đích trừng trị mà trƣớc hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục ngƣời vi phạm.