mở đầu quá trình tìm hướng đổi mới quản lý HTX” [80, tr. Cuối năm 1980, tiếp thu chủ trương khoán mới đến nhóm và người lao động, tỉnh uỷ cho phép tiến hành thử nghiệm ở hợp tác xã Phước Thắng I trong vụ đông xuân 1980 – 1981 và mở ra 29 hợp tác xã trong vụ hè thu 1981 và làm đại trà trong vụ đông xuân 1981 – 1982. Với việc thực hiện cơ chế khoán theo chỉ thị 100 đã từng bước làm thay đổi nên nông nghiệp của Nghĩa Bình. Tác dụng của khoán 100 đã tạo ra những thay đổi to lớn điều này được thể hiện khi so sánh giữa ba năm thực hiện khoán mới (1982 - 1984) và 3 năm (1979 – 1981) mặc dù năm 1983 hạn nặng kéo dài nhưng bình quân lương thực 1 năm trong 3 năm khoán mới đạt 55.5500 tấn so với 47.4000 tấn so với 3 năm trước đó tương ứng với tỉ lệ tăng bình quân 17,07%.
Riêng lúa bình quân trong 3 năm khoán sản phẩm từ 18,9 tạ/ha trước đó lên 24,3 tạ/ha gieo trồng tăng 28,57% trong đó phần vượt khoán trên dưới 20%( bình quân 1ha từ 5-6 tạ). Như vậy bình quân lương thực đầu người từ 258 kg (1981) lên 283 kg (1984) mặc dầu số dân hàng năm tăng 2,5 %, có được điều này là nhờ thông qua khoán 100, mà hợp tác xã và nhất là xã viên đã có động lực khai thác và sử dụng hợp lí đất đai tạo thêm vật tư để tăng thêm vốn vật tư để thâm canh tăng thêm thu nhập vượt khoán thể hiện qua hệ số sử dụng đất tăng tăng thêm 2 lần trong đó vùng lúa các hợp tác xã đạt từ 2,5 – 2,6 lần, tập quán luân canh tăng vụ được phục hồi và mở e 13 rộng, lúa vụ ba tăng cả diện tích và năng suất kể cả một hợp tác xã miền núi; ngày công trong định mức được quản lý chặt chẽ, hiện tượng đông công phóng điểm, nhiều hợp tác giảm được so với trước chất lượng lao động tốt hơn và ngày lao động dài thêm 2-3 giờ. Thông qua khoán sản phẩm đã thu hồi trên 4000 ha đất lấn chiếm, đưa đại bộ phận đất màu vào quản lý với các hình thức khoán sản phẩm khác nhau kể cả khoán trắng, không còn tình trạng bỏ hoang đất [52, tr. Về chăn nuôi so sánh 3 năm thực hiện khoán mới (1982 – 1984) và 3 năm trước đó (1979 – 1981) thì đàn trâu tăng 10,9%, đàn bò tăng 19,7% đàn lợn tăng 14,25%.
Tính đến năm 1984 đã có 43 hợp tác xã chăn nuôi bò đàn, 176 hợp tác xã chăn nuôi lợn tập thể trong đó có 49 trại nái tập trung trên 200 hợp tác xã nuôi vịt thời vụ bước đầu áp dụng hình thức khoán sản phẩm đàn lợn tập thể chiếm 26,5 % so với tổng đàn (140402 con/544533 con). Năm 1980, đàn trân bò của tỉnh đã tăng lên 187.033 con, trong đó dùng cho cày kéo là 91527con. Đàn gia cầm tăng từ 1162000 con năm 1980 lên 1275550 con vào năm 1985 sản lượng thịt hơi các loại được xuất chuồng từ 6015,9 tấn (1980) lên 9427 tấn (1985) tăng 1,5 lần so với so với năm 1980 [52, tr. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực hiện cơ chế khoán 100, trên địa bàn tỉnh đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, hoạt động các hợp tác xã trở nên trì trệ.
Để chống khoán trắng, các hợp tác xã vẫn phải nắm một số khâu: làm đất, thuỷ lợi, cung ứng vật tư, nhưng trên thực tế không đảm đương được. Ở Nhiều hợp tác xã, việc tăng mức khoán sản phẩm (lúa, hoa màu.) lên quá cao, làm cho phần sản lượng vượt khoán không thể bù đắp nổi chi phí vật chất đầu tư. Do đó, xã viên chán nản, một số người trả lại ruộng đất nhận khoán cho hợp tác xã.Tình trạng xã viên nợ sản phẩm đã xuất hiện trong hầu hết các hợp tác xã. Số thóc nhân dân nợ hợp tác xã ngày càng lớn.
Thực trạng khó khăn trên đòi hỏi phải có chủ trương, biện pháp tháo gỡ kịp thời. e 14 Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó quyết định tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung cho ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, chuyển từ chính sách kinh tế đóng kín sang chính sách kinh tế mở cửa thị trường, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc gia trên nguyên tắc đảm bảo độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia. Những quan điểm trên đánh dấu sự đổi mới quan trọng về tư duy kinh tế, mở ra thời kỳ đổi mới căn bản và đồng bộ của Việt Nam. Dựa trên cơ sở chung chỉ đạo của Đảng và nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp, Tỉnh uỷ đã tiến hành triển khai các chính sách chỉ đạo phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện chủ trương đường lối của đại hội đại biểu VI của Đảng (1986). Đại hội Đảng tỉnh Nghĩa Bình lần thứ IV (8/1/1987) Đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh trong thời gian tới: “tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.” Trong đó xác đinh nhiệm vụ cụ thể trong phát triển hợp tác xã là : “Củng cố hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm; xây dựng củng cố hợp tác xã và tổ hợp nghề cá; hướng các hợp tác xã mua bán và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm; xây dựng và củng cố các hợp tác xã và tổ hợp nghề cá; hướng các hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đi đúng quỹ đạo kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ban thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Nghĩa Bình đã đề ra nghị quyết số 16 ngày 23/5/1987 “Một số chủ trương biện pháp củng cố quan hệ sản xuất XHCN ở e 15 nông thôn”, ban thường trực UBND tỉnh tiến hành kiểm điểm tình hình HTXNN những năm qua, khẳng định những việc làm được; những mặt còn hạn chế khuyết điểm để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp theo chính sách chung của Đảng và nhà nước. Thực hiện đổi mới hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp ở Bình Định đã đạt những bước tiến mới.
Trong giai đoạn năm 1987 ghi nhận các loại hợp tác xã công – nông – thương tín được xây dựng và thí điểm trên 6 hợp tác xã nhưng kết quả đạt được không cao nhiều hợp tác xã còn lúng túng, có những hợp tác xã tuy rằng đổi tên nhưng vẫn chưa có nội dung hoạt động rõ ràng. Về ruộng đất trâu bò thì hầu hết các hợp tác xã quản lý được.Song chỉ mới có 65% - 68% số hợp tác xã quản lý được hoa màu tập thể hoá có hiệu quả, tích cực phát triển mở rộng chăn nuôi.Cụ thể đã cho 120000 trâu bò cày kéo kết hợp sinh sản chiếm 66% tổng số trâu bò cày kéo cả tỉnh [53, tr. Các hợp tác xã đang đa dạng cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề trên cơ sở khai thác tích cực tiềm năng đất đai, lao động và điều kiện tự nhiên của mỗi hợp tác xã để làm ra nhiều nông sản phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu. Một số hợp tác xã mạnh dạn đổi mới cách làm ăn, mở rộng liên doanh, liên kết kinh tế, kinh doanh tổng hợp làm ra sản phẩm hàng hoá góp phần xây dựng mô hình sản xuất, quản lý mới như Bình Dương, Hoài Sơn 2, Nhơn Phú 1, Nhơn Khánh.Ở các huyện miền núi cây lâm nghiệp được chú ý đúng mức, có 253 hợp tác xã, 375 tập đoàn sản xuất đã nhận 334000ha rừng để sản xuất quản lý.
Đáng chú ý là nuôi tôm xuất khẩu được đẩy mạnh ở nhiều hợp tác xã đồng bằng ven biển góp phần thực hiện ba chương trình kinh tế lớn một cách tích cực như các hợp tác xã ở Tuy Phước, Qui Nhơn, Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc, Bình Dương. Kinh tế gia đình được chú ý, nhờ kinh tế vườn nên có hợp tác xã đã vươn e 16 lên sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao như quế, tiêu, đào ở các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất ở Hoài Ân. Ngoài lúa, nhiều loại cây trồng khác được duy trì phát triển, tạo được một lượng nông sản dồi dào đa dạng có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu đáng kể. Cây họ đậu góp phần cải tạo đất và làm tăng sản lượng, sản phẩm tiêu dùng tích cực ở vùng lúa, vùng màu.
Một số hợp tác xã quản lý sử dụng tốt trâu bò cày kéo, đã khoán cho xã viên diện tích , thời gian cày bừa, mức khấu hao gắn với công điểm chăn dắt, giá trị lúc phế canh. Tiêu biểu là Phước Thuận, Nhơn Phong 2, Nhơn Phú 1.Một số hợp tác xã sử dụng tốt máy móc, gắn được quyền lợi và trách nhiệm của người bảo quản, sử dụng với quyền sở hữu tập thể như Đập Đá, Nhơn Khánh.Đến 1987, các hợp tác xã đã tăng cường cơ giới hoá máy móc với việc mua sắm 34 máy kéo lớn, 400 máy kéo nhỏ, 42 ô tô, 300 máy say xát, 100 ha canh tác có 9,6 mã lực. Định mức lao động ở nhiều hợp tác xã có tiến bộ so với thời kỳ 3 khoán cùng với việc đưa các tiến bộ kỹ thuật vào đầu tư sản xuất công đầu tư cho 1 đơn vị diện tích, đơn vị sản phẩm đã giảm bớt 60 – 100 công, mía 50 – 60 công/ ha [53, tr. Bên cạnh những tiến bộ phát triển mạnh mẽ đó vẫn tồn tại những bất cập đòi hỏi phải có sự thay đổi tư tưởng tập quán tiểu nông, phường hội của người nông dân vẫn chưa lay chuyển.
Sản xuất mang tính tự cấp tự túc, lao động gắn chặt với mảnh ruộng khoán, trong tổ chức sản xuất cây xuất khẩu nhiều hợp tác xã chưa hợp đồng với nhà nước nên bị ứ đọng như cây nghệ ở Phù Mỹ, Phù Cát, cây dừa ở Hoài Nhơn, Phù Cát. Trâu bò nhiều hợp tác xã không được quản lý tốt dẫn đến giảm sút, chèn ép nhau trong khoán sản phẩm, một số hợp tác xã có xã viên tự ý đổi lấy trâu bò tốt hợp tác xã làm của riêng.