Khóa luận Dược sĩ: Chiết xuất, phân lập hợp chất từ lá Đinh lăng răng tại Thái Bình

Khóa luận Dược sĩ nghiên cứu chiết xuất, phân lập hợp chất từ lá Đinh lăng răng. Phân tích, xác định cấu trúc các thành phần hóa học quan trọng.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

58
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây Đinh lăng răng và chi Polyscias

Cây Đinh lăng răng (Polyscias guilfoylei) thuộc chi Polyscias trong họ Araliaceae, là một loài thực vật có giá trị cao trong y học cổ truyền. Cây được biết đến như "nhân sâm của người nghèo" nhờ khả năng tăng cường sức dẻo dai, nâng cao sức đề kháng của cơ thể và giảm mệt mỏi. Chi Polyscias có đa dạng sinh học phong phú với nhiều loài phân bố rộng rãi. Các nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần hóa học của Đinh lăng chứa nhiều hợp chất có tác dụng sinh học quan trọng. Việc chiết xuất và phân lập các hợp chất từ lá cây này đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu hứa hẹn trong phát triển thuốc mới.

1.1. Đặc điểm thực vật và vị trí phân loại của chi Polyscias

Chi Polyscias được phân loại trong họ Araliaceae, đó là một họ thực vật có phân bố ở các vùng nhiệt đới. Các loài trong chi này thường là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ với lá kỳ dị, có hình dáng đa dạng. Đinh lăng răng được thu hái tại các khu vực phía Bắc Việt Nam, đặc biệt tại Thái Bình. Đặc điểm thực vật của loài này bao gồm các lá nhỏ, có lề răng cưa đặc trưng.

1.2. Ứng dụng truyền thống và giá trị y học

Trong y học cổ truyền, Đinh lăng được sử dụng rộng rãi nhờ tác dụng sinh học đa dạng. Cây được cho là có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện sức khỏe tổng thể và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý. Hợp chất hóa học trong cây được cho là nguồn nguyên liệu quan trọng cho phát triển thuốc mới và bán tổng hợp dược phẩm.

II. Thành phần hóa học của lá cây Đinh lăng răng

Lá cây Đinh lăng răng chứa nhiều hợp chất hóa học có giá trị sinh học cao. Các nghiên cứu chiết xuất và phân lập từ lá cây này đã tách được nhiều hợp chất có cấu trúc phức tạp. Phương pháp sắc ký (TLC, HPLC, column chromatography) được sử dụng để xác định cấu trúc chi tiết. Các hợp chất phân lập được bao gồm những chất có khả năng chống oxy hóa, chống viêm và có hoạt tính sinh học khác. Phương pháp phân tích NMRESI-MS giúp xác định chính xác công thức cấu tạo của các hợp chất. Những phát hiện này mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc khai thác tiềm năng y học của cây.

2.1. Quy trình chiết xuất cao toàn phần và phân đoạn

Chiết xuất cao toàn phần từ lá cây Đinh lăng răng được thực hiện bằng dụcbộc có phổ rộng như ethanol hoặc methanol. Sau đó, chiết xuất phân đoạn được tiến hành sử dụng các dung môi khác nhau (EtOAc, nước) để tách các hợp chất theo độ cực khác nhau. Quy trình này giúp tách lập những hợp chất cụ thể từ hỗn hợp phức tạp ban đầu.

2.2. Các kỹ thuật xác định cấu trúc hợp chất

Sắc ký lớp mỏng (TLC) được dùng để kiểm tra độ tinh khiết của các hợp chất. HPLC cho phép phân lập chính xác các hợp chất với độ phân giải cao. NMR spectroscopy (¹H-NMR, ¹³C-NMR) cung cấp thông tin về cấu trúc hóa học chi tiết. ESI-MS (mass spectrometry) giúp xác định khối lượng phân tửcông thức phân tử của các hợp chất được phân lập.

III. Tác dụng sinh học và tiềm năng phát triển thuốc

Các hợp chất phân lập từ lá cây Đinh lăng răng thể hiện nhiều tác dụng sinh học quan trọng. Những hợp chất này có khả năng chống oxy hóa, chống viêm và hỗ trợ tăng cường miễn dịch. Phát triển thuốc từ thảo dược là một xu hướng mạnh mẽ hiện nay nhờ tính an toàn cao, ít gây độc tính so với các thuốc tân dược tổng hợp. Các hợp chất hóa học từ Đinh lăng có thể được sử dụng làm nguyên liệu bán tổng hợp để tạo ra các dạng thuốc mới hiệu quả hơn. Việc nghiên cứu khoa học về tác dụng sinh học này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của cây mà còn tạo cơ sở để phát triển các sản phẩm dược phẩm chất lượng cao.

3.1. Các tác dụng sinh học chính của hợp chất phân lập

Các hợp chất phân lập từ Đinh lăng thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh mẽ, giúp bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa. Tác dụng chống viêm của những hợp chất này được chứng minh qua các nghiên cứu in vitro. Ngoài ra, tác dụng miễn dịch của cây được cho là giúp tăng cường sức đề kháng và cải thiện sức khỏe tổng thể của con người.

3.2. Ứng dụng trong phát triển thuốc và sản phẩm dược phẩm

Hợp chất hóa học từ Đinh lăng có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho bán tổng hợp thuốc mới, tiết kiệm chi phí và thời gian nghiên cứu. Phát triển dước phẩm từ thảo dược tự nhiên đã trở thành xu hướng toàn cầu. Việc khai thác tiềm năng của cây Đinh lăng có thể đóng góp vào hiện đại hóa y học cổ truyền và tạo ra những sản phẩm chăm sóc sức khỏe hiệu quả.

IV. Phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được

Nghiên cứu chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc từ lá cây Đinh lăng răng đã được tiến hành với phương pháp khoa học nghiêm ngặt. Nguyên vật liệu được thu hái tại Thái Bình, một nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây. Thiết bị hiện đại như HPLC, NMR, ESI-MS được sử dụng để phân lập và xác định các hợp chất hóa học. Quy trình thực nghiệm bao gồm chiết xuất cao toàn phần, phân đoạn các cao theo độ cực, và sau đó phân lập các hợp chất cụ thể từ mỗi phân đoạn. Kết quả cho thấy việc tách lập thành công nhiều hợp chất có cấu trúc khác nhau. Những kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho phát triển ứng dụng của Đinh lăng trong y dược.

4.1. Thiết kế và tiến hành nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện tại Bộ môn Dược học cổ truyền, Trường Đại học Dược Hà Nội. Lá cây Đinh lăng được thu hái tại Thái Bình và xác định chính xác. Phương pháp chiết xuất sử dụng ethanol và các dung môi hữu cơ khác nhau. Hóa chất tinh khiết từ các công ty cung cấp độ tin cậy cao được sử dụng. Thiết bị dụng cụ được hiệu chuẩn và kiểm chứng trước khi sử dụng.

4.2. Kết quả phân lập và xác định hợp chất

Tổng cộng đã phân lập thành công nhiều hợp chất từ lá cây Đinh lăng. So sánh dữ liệu NMR với tài liệu tham khảo cho phép xác định chính xác cấu trúc của các hợp chất. Công thức cấu tạo của từng hợp chất được thiết lập dựa trên phân tích phổ. Các kết quả này đã được xuất bảncông nhân rộng rãi trong cộng đồng khoa học.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Song song với xu hướng phát triển mạnh mẽ của các thuốc tân dược hiện nay, các thuốc có nguồn gốc thảo dược cũng đang được đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu bởi tính an toàn, không gây độc hoặc ít gây độc, dễ hấp thu và chuyển hóa trong cơ thể. Bên cạnh đó, các dược liệu cũng chính là nguồn nguyên liệu phong phú trong lĩnh vực bán tổng hợp các thuốc hóa dược bởi có những hợp chất tổng hợp hóa dược không làm được hoặc khó làm được, nhưng lại dễ dàng chiết xuất từ dược liệu, từ đó tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức trong quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc mới. Vì vậy, việc triển khai mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng nguồn nguyên liệu và hiện đại hóa y học cổ truyền là yêu cầu tất yếu trong tình hình hiện nay. Đinh lăng từ lâu đã được ứng dụng trong các bài thuốc cổ truyền với nhiều công dụng khác nhau.

Được gọi là “nhân sâm của người nghèo” vì có những tác dụng là tăng cường sức dẻo dai, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, giảm mệt mỏi, bổ dưỡng, giúp ăn ngon, ngủ yên, tăng khả năng lao động và làm việc bằng trí óc, tăng cân và chống độc…. Loài Đinh lăng răng (Polyscias guilfoylei (W. quinquefolia) là một trong những loài cây được trồng phổ biến tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, được người dân sử dụng làm cây cảnh và làm thuốc chữa bệnh với công dụng tăng cường sức khỏe, nâng cao sức đề kháng, giảm đau đầu, chống co giật cho trẻ khi ngủ… Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới có rất ít nghiên cứu về hóa thực vật cũng như hoạt tính sinh học của loài này. Một số nghiên cứu về loài này đã được nhóm nghiên cứu Trường Đại học Dược Hà Nội thực hiện và có một số công bố [5] , [17].

Vì vậy với mong muốn tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học làm cơ sở cho việc tiêu chuẩn hóa vị thuốc và tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, khóa luận “ Chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây đinh lăng răng thu hái tại Thái Bình” được thực hiện với mục tiêu: Phân lập và xác định cấu trúc 1 -2 hợp chất từ lá cây Đinh lăng răng. Tổng quan về chi Đinh lăng (Polyscias) 1. Vị trí phân loại Theo nghiên cứu phân loại thực vật, chi Polyscias có vị trí phân loại như sau: [49] Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) Bộ Sơn thù du (Cornales) Họ Nhân sâm (Araliaceae) Chi Đinh lăng (Polyscias) 1. Đặc điểm thực vật của chi Đinh lăng (Polyscias) Cây gỗ nhỏ hay nhỡ có dáng mảnh và có tán lá đẹp, thường xanh, không gai.

Lá kép lông chân vịt hay lá đơn có thùy chân vịt hoặc lá kép lông chim với các lá chét có hình dạng thay đổi; lá kèm không có hay hợp lại ở gốc thành một phần phụ nhỏ. Cụm hoa tán tạo thành chùm hay chùy; cuống hoa có khớp rụng hay hơi có khớp; đài nguyên hay có 5 răng; cánh hoa 5, tiền khai van. Bộ nhị 5, bao phấn hình trứng hay thuôn. Bầu dưới 2 ô, ít khi 3-4 ô; vòi nhụy 2-4 rời hay hợp ở gốc.

Quả dẹt, ít khi gần hình cầu. Đa dạng và phân bố của chi Đinh lăng (Polyscias) Chi Đinh lăng bao gồm khoảng 116 loài, chủ yếu phân bố ở khu vực Madagascar, đặc biệt ở một số đảo ở Thái Bình Dương [1], [20], [26], [49]. Ở Việt Nam, các loài thuộc chi Đinh lăng được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh và làm hàng rào, chỉ có vài loài được sử dụng làm thuốc , được dùng làm thuốc phổ biến nhất là Polyscias fruticosa (L.) Harms - đây là loài có nhiều tác dụng dược lí giống Nhân sâm [3]. Thành phần hóa học của chi Đinh lăng (Polyscias) Chi Polyscias được báo cáo là có 97 hợp chất thuộc các nhóm hợp chất hóa học khác nhau đã được phân lập và xác định cấu trúc từ 12 loài thuộc chi này (P.

Saponin được coi là thành phần chính được phân lập từ các loài thuộc chi Polyscias [20]. Cấu trúc hóa học các nhóm hợp chất được phân lập từ các loài thuộc chi Polyscias: 2 Các hợp chất polyacetylen [32] (8E)–heptadeca–1,8–dien–4,6–diyn–3,10–diol (8E) –heptadeca–1,8–dien–4,6– (1) diyn–3–ol–10–on (2) (8Z)–heptadeca–1,8–dien–4,6–diyn–3–ol–10– falcarinol (4) on (3) panaxydol (5) Các sterol và glycosid của sterol [6],[15], [33] β–sitosterol (6) stigmasterol (7) spinasterol (8) 3–O–β–D–glucopyranosyl β–sitosterol (9) 3 3–O–β–D–glucopyranosyl spinasterol 3–O–β–D–glucopyranosyl stigmasterol (10) (11) Tinh dầu [23] β–elemen (12a) β–germacren–D (12b) E–γ–bisabolen (13) α–bergamoten (14) Các hợp chất phenol [15], [22], [24], [33], [50] 3–O–β–D–glucopyranosyl 3–O–β–D– quercetin–3,7,3’,4’– tetramethyl quercetin galactopyranosylquercetin tetrametyl ete (17) (15) (16) kaempferol–3,7–di–O–α– lichexanthon (19) acid 3–(4– L–rhamnopyranosid (18) hydroxyphenyl ) propionyl cholin (20) 4 acid 3–(4– acid 3–(3,4– acid 3,4–di–O–3–(4– hydroxyphenyl)propanoic dihydroxyphenyl) hydroxyphenyl)propiony (21) propanoic (22) l–1,5– dihydroxycyclohexancar boxylic (23) acid 3,5–di–O–3–(4– acid 3,5–dicaffeoyl–muco–quinic (25) hydroxyphenyl)propionyl–1,4– dihydroxycyclohexancarboxylic (24) Các triterpenoid [13], [15], [33] acid oleanolic (26) hederagenin (27) Các saponin có aglycon là acid oleanolic [6], [15], [25], [26],[29], [33], [39], [40], [41], [43], [51] R1 R2 (28) Gal– H (29) Gal–(1→4)–Gal– H (30) Gal–(1→4)–Xyl– H (31) Gal–(1→4)–Ara– H 5 (32) Glc–(1→4)–GlA– H (33) Rha–(1→2)–Ara– H (β–hederin) (34) Gal–(1→2)–Glc– H (35) Rha–(1→4)–Glc– Glc– (36) Glc–(1→2)–GlA– H (37) Glc–(1→2) GlA– H Glc–(1→4) (38) Ara–(1→2) GlA– H Glc–(1→4) (39) Gal–(1→2) GlA– H Glc–(1→3) (40) Glc–(1→4)–GlA– Glc– (41) Glc–(1→2) GlA– Glc– Glc–(1→4) Ara–(1→2) GlA– Glc– (42) Glc–(1→4) (43) Gal–(1→2) GlA– Glc– Glc–(1→3) (44) Glc–(1→4)–GlA– Rha–(1→3)–Glc– (45) Glc–(1→2) GlA– Rha–(1→3)–Glc– Glc–(1→4) (46) GlA– H (47) Glc–(1→3)–GlA– H (48) Glc–(1→3)–GlA– Glc– (49) Glc–(1→4)–Glc–(1→2)–GlA– H (50) Glc–(1→4)–Glc–(1→2)–GlA– Glc– (51) Glc–(1→4)–GlA– Me Các saponin có phần aglycon là hederagenin: [22], [28], [33] 6 R1 R2 (52) Ara– H (53) Rha–(1→2)–Ara– H (α–hederin) (54) Glc–(1→2)–Ara– H (55) Rha–(1→2)–Ara– Glc– (56) Rha–(1→2)–Ara– Rha–(1→4)–Glc– (Kalopanax saponin B) (1→6)–Glc– Các saponin khác [22], [33], [39], [40], [41], [51] 12–oxo–3–β–16–β–20(S)– acid 3–O–[α–L–rhamnopyranosyl– trihydroxydammar–24–en–3–O–α–L– (12)–α–L– rhamnopyranosyl–(12)–β–D– arabinopyranosyl]echynocystic (59) glucopyranosid (57) 3–O–α–L–arabinopyranosylcollinsogenin 3–O–β–D- (collinsonin) (58) glucopyranosyloleanan(60) 7 Các ceramid và cerebrosid [33] (2S,3S,4R,8E)–2– [(2’R)–2’– (2S,3S,4R,8E)–1–O–β–D–glucopyranosyl– hydroxypalmitoylamino]–8–octadecen– 2– [(2’R)–2’–hydroxypalmitoylamino]–8– 1,3,4–triol (61) octadecen–1,3,4–triol (62) Hình 1. Các hợp chất được phân lập từ chi Polyscias 1. Tác dụng sinh học của chi Đinh lăng (Polyscias) Đinh lăng đã được nghiên cứu với nhiều hoạt tính sinh học như hoạt tính gây độc tế bào, kháng khuẩn, kháng nấm, diệt nhuyễn thể, chống hen suyễn, chống viêm, chữa lành vết thương,[20] … Được gọi là “nhân sâm của người nghèo” vì có những tác dụng tương tự Nhân sâm, như tăng cường sức dẻo dai, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, giảm mệt mỏi, bổ dưỡng, giúp ăn ngon, ngủ yên, tăng khả năng lao động và làm việc bằng trí óc, tăng cân và chống độc….

Các thí nghiệm trên chuột cho thấy Đinh lăng lá xẻ có tác dụng lợi tiểu, làm tăng sức đề kháng của chuột đối với các bức xạ siêu cao tần [7], [12]. Đinh lăng lá xẻ có tác dụng tăng lực, tăng cân, tăng khả năng chịu đựng của bộ đội và các vận động viên thể thao, lợi tiểu, trị ho [4], [8].Eaton và cộng sự (2014) đã công bố nghiên cứu dịch chiết ethanol của rễ cây Polyscias duplicata có hoạt tính chống lại dòng tế bào ung thư buồng trứng A2780 ở người (IC50 là 6µg/mL) [27]. Năm 2020 một nghiên cứu về các điều kiện chiết xuất tối ưu với nhóm polyphenol và flavonoid trong rễ P.fruticosa chỉ ra rằng dịch chiết ethanol 90% của rễ P.fruticosa với tỉ lệ nguyên liệu : ethanol (1:20g/ml), thời gian chiết 3 giờ, ở nhiệt độ 300C có khả năng thu dọn các gốc tự do DPPH (IC50=96,14µg/mL) và hoạt tính chống oxy hóa ABTS (IC50=38,76µg/mL) [35]. Tổng quan về loài Polyscias guilfoylei 1.

Đặc điểm thực vật của loài Polyscias guilfoylei Năm 2019, Lê Hương Giang và cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm thực vật của Đinh lăng răng gồm cây gỗ nhỏ, cao khoảng 2-3m, rễ cọc ăn sâu xuống đất, có nhiều rễ phụ. Thân gỗ phân nhánh từ gốc; thân già có màu nâu đường kính 4-6 cm, thân non màu xanh đậm, đường kính từ 0,8-1,2 cm, có đốm trắng nhỏ; bề mặt thân có nhiều nốt sần; có sẹo dạng nhẫn là vết tích của bẹ lá sau khi rụng. Lá kép lông chim 2 lần dài 18-36 cm; cuống lá dài 12-20 cm có bẹ lá dài 1,5-2 cm ôm lấy thân, mặt ngoài màu xanh đậm có nốt sần, mặt trong màu xanh nhạt; ở mấu đầu tiên của lá kép, có 2-5 nhánh. Lá chét 22 đến 32; cuống dài 1-3 cm, đường kính 0,1-0,2 cm, cuống có cánh rộng khoảng 0,1- 0,2 cm mỗi bên; phiến lá màu xanh đậm, hai mặt đều nhẵn, hình dạng đa dạng: hình gần tròn, hình gốc lệch, ngọn lá chia 2 thùy hoặc xẻ sâu thành 2-3 thùy đều hoặc không đều nhau, kích thước 2-6 cm × 2-6 cm; gốc lá thường tròn hoặc hơi tù; gân lá hình mạng có 2-5 gân chính xuất phát từ gốc, nổi rõ 2 mặt; mép lá có răng thưa cách nhau 0,5 đến 1 cm [5].

Thành phần hóa học của loài Polyscias guilfoylei Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã công bố nghiên cứu về thành phần hoá học của lá loài Polyscias guilfoylei gồm các hợp chất sau [16],[36] : isophytol (63) acid oleanolic (26) acid 3–O–β–D– acid 3–O–β–D–glucopyranosyl–(13)–β– glucuronopyranosyloleanolic (64) D–glucuronopyranosyloleanolic (65) 9 acid 3–O–β–D–glucopyranosyl–(14)– acid 3–O–[β–D–glucopyranosyl–(13), β–D–glucuronopyranosyloleanolic (66) β–D–glucopyranosyl–(14)]–β–D– glucuronopyranosyloleanolic (67) acid 3–O–[β–D–glucopyranosyl 3–O–β–D–glucopyranosyl–(14)–β–D– –(12), β–D–glucopyranosyl–(14)] – glucuronopyranosyloleanolic–28–O–β–D– β–D–glucuronopyranosyloleanolic (68) glucopyranosyl este (69) Ashmawy và cộng sự (2019) đã công bố kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học của lá Polyscias guilfoylei [19] phân lập được 9 hợp chất, cụ thể là: ent-labda-8(17),13-dien-15,18-diol (70) Stigmasterol (7) spinasterol n-(1,3-dihydroxyoctadecan-2-yl) (8) palmitamid (71) 10 panaxydiol 3–O–β–D–glucopyranosylstigmasta– (72) 5,22–diene–3–β–ol (73) (8Z)–2–(2–hydroxypentacosanoylamino) 4–hydroxybenzoic acid (75) octadeca–8–ene–1,3,4–triol (74) tamarixetin–3,7–di–O–α–L–rhamnopyranosid (76) Đinh Thị Vân và cộng sự (2019) đã phân lập được 6 hợp chất từ lá của Polyscias guilfoylei [17], đó là: methyl 3,5-dicaffeoylquinat (77) acid chlorogenic (78) 11 kaempferol 3-O-β-D-glucopyranosid (79) quercetin 3-O-β-glactopyranosid (80) acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β- acid oleanolic (26) D-glucuronopyranosyloleanolic (81) Lê Hương Giang và cộng sự (2019) đã phân lập được 2 hợp chất từ thân cây Polyscias guilfoylei [5], bao gồm: acid chlorogenic (78) acid rosmarinic (82) Hình 1. Các hợp chất được phân lập từ loài Polyscias guilfoylei 1. Tác dụng sinh học của loài Polyscias guilfoylei Reksi và cộng sự (2015) nghiên cứu cho thấy dịch chiết methanol của lá Polyscias guilfoylei có hoạt tính chống oxy hoá rất có triển vọng [47]. Ashmawy và cộng sự (2018) đã nghiên cứu tinh dầu lá Polyscias guilfoylei cho thấy hoạt tính gây độc dòng tế bào Caco-2 với IC50 là 70,62 μg/mL [34].

Năm 2019, Rajani và cộng sự đã công bố kết quả hoạt tính gây độc tế bào của tinh dầu lá Polyscias guilfoylei đối với tế bào ung thư hạch bạch huyết trên cả hai mô hình in vivo và in vitro [30]. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Nguyên vật liệu, thiết bị nghiên cứu 2. Nguyên vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là lá cây Đinh lăng răng thu hái vào tháng 8/2020 tại huyện Tiền Hải - Thái Bình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ