Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9340101) với đề tài "Hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Hương Giang dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thái Phong tại Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội (2020). Công trình thuộc hướng nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Báo cáo của Liên hợp quốc chỉ ra ô nhiễm môi trường là mối đe dọa lớn đối với xã hội loài người trong thế kỷ XXI. Khí thải từ giao thông, sản xuất công nghiệp, cháy rừng và nhiệt điện gây ra tử vong cho khoảng 7 triệu người mỗi năm. Tại Việt Nam, nghiên cứu của tổ chức Germanwatch xếp Việt Nam vào nhóm sáu quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất thế giới do biến đổi khí hậu trong 20 năm qua. Năm 2018, khoảng 60.000 người chịu tác động của ô nhiễm môi trường, trong đó 50.000 ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí; thiệt hại kinh tế ước tính từ 10,82 đến 16,63 tỷ USD (tương đương 240.000 tỷ đồng, chiếm 4,45% đến 5,64% GDP cả nước). Tháng 9/2019, tổ chức AirVisual ghi nhận chất lượng không khí tại Hà Nội có chỉ số AQI thường xuyên trên 200; nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh dao động từ 28 đến trên 50,5 µg/m³, vượt ngưỡng khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ hai đến ba lần. Các lưu vực sông như hệ thống sông Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm nghiêm trọng, giá trị TSS và độ đục vượt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vào năm 2016. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hành vi tiêu dùng xanh của cá nhân, mua sắm công xanh, quản lý chuỗi cung ứng xanh hoặc hoạt động logistics xanh. Chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu toàn diện về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.

Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh yếu tố đầu vào.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết về hoạt động mua sắm xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.
    2. Hoàn thiện thang đo hoạt động mua sắm xanh và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp.
    3. Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tới hoạt động mua sắm xanh.
    4. Đánh giá thực trạng hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam và sự khác biệt theo đặc điểm doanh nghiệp.
    5. Đưa ra các đề xuất cho doanh nghiệp và hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Nội hàm của hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là gì? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam? Nhân tố nào có ảnh hưởng tích cực, nhân tố nào có ảnh hưởng tiêu cực? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào?
    2. Mức độ tham gia của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vào hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào hiện nay như thế nào? Có sự khác biệt về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào theo đặc điểm của doanh nghiệp hay không?
    3. Những giải pháp nào có thể thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động mua sắm xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung và yếu tố đầu vào: Tập trung vào hai nhóm yếu tố đầu vào căn cứ theo Điều 25 Thông tư 200/2014/TT-BTC: (1) Nguyên liệu, vật liệu chính cấu thành nên thực thể sản phẩm; (2) Nguyên liệu, vật liệu phụ phục vụ sản xuất và đóng gói (phụ gia, bao bì, túi, thùng carton).
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014 tại Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tập trung vào các ngành phổ biến như dệt may, da giày, sản xuất giấy và sản xuất linh kiện điện tử tại một số thành phố lớn.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2017 – 2020; dữ liệu khảo sát thực nghiệm được thu thập trong năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu mua sắm và mua sắm xanh trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn:

Giai đoạn lịch sử Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và đóng góp chính
Trước năm 1945 Babbage (1832); Comptroller & Northwestern (1887); Redtmann (1910); Nicklisch (1912); Findeisen (1924); Lewis (1932, 1936); Sandig (1935); Fearon (1968); Kaufmann (2002) Mua sắm được xác lập như một chức năng tổ chức; hình thành quy trình mua sắm, quản trị cung ứng và phân tích thị trường đầu vào.
1946 – Thập niên 1960 Lewis (1946); Beste (1956); Grochla (1956); Bergqvist (1958); Sundhoff (cuối 1950s); Mellerowicz (đầu 1960s) Tách biệt chính sách mua sắm ngắn hạn và dài hạn; áp dụng thẻ điểm cân bằng và kế toán chi phí trong quyết định mua sắm.
Cuối 1960s – Thập niên 1980 Ammer (1968, 1969); Porter (1985); Wildemann (1990); Akacum & Dale (1995) Phát triển hệ thống MRP, MRP II; quản trị nguyên vật liệu; vận dụng mô hình Just-In-Time (JIT) và Quản trị chất lượng toàn diện (TQM).
Giữa 1990s – Nay Monczka và cs (1998); Zsidisin & Siferd (2000); Glas & Kleemann (2016) Xác lập khái niệm mua sắm trong chuỗi cung ứng với nguyên tắc 5 đúng; xuất hiện mua sắm điện tử (e-procurement) và mua sắm 4.0.

Đối với hoạt động mua sắm xanh, các công trình quốc tế được phân nhóm theo nội dung nghiên cứu:

  1. Cấu trúc và hành vi mua sắm xanh: Lamming và Hanson (1996) xác định 5 chiến lược mua xanh tại Anh; Zsidisin và Hendrick (1998) đưa ra 5 yếu tố thực hành mua sắm môi trường; Bowen và cs (2006) chia thành cung ứng xanh dựa trên sản phẩm, xanh hóa quy trình và cung ứng xanh nâng cao; Hamner (2006) tổng kết 8 hoạt động mua sắm xanh cơ bản; Hosogai và cs (2008) phân tích hệ thống EMS trong chuỗi cung ứng tập đoàn Fujitsu; Blome và cs (2013) phân loại 3 nhóm hành động mua xanh.
  2. Các nhân tố tác động đến mua sắm xanh: Green và cs (1996) nhấn mạnh việc tuân thủ pháp luật và cắt giảm chi phí; Min và Galle (1997, 2001) chỉ ra áp lực luật định, khối lượng mua và rào cản chi phí; Carter và Carter (1998) khẳng định áp lực khách hàng là động lực chính; Carter và Jennings (2004) mở rộng sang mua sắm có trách nhiệm xã hội (PSR); Tarig Khidir ElTayeb và cs (2009) khảo sát 569 doanh nghiệp đạt chuẩn ISO 14001 tại Malaysia; Yu-Xiang Yen và Shang-Yung Yen (2011) khảo sát 239 doanh nghiệp công nghệ tại Đài Loan; Wong và cs (2016) nghiên cứu ngành xây dựng Hồng Kông; Bohari và cs (2017) khảo sát tại Malaysia; Yook và cs (2017) phân tích năng lực vận hành và năng lực động tại 239 doanh nghiệp Nhật Bản; các nghiên cứu tại Kenya của Đại học Karatina (2015), Kipkori và Wanyoike (2015); nghiên cứu bất động sản tại Trung Quốc của Shen và cs (2016).

Tại Việt Nam, các tác giả điểm lại các nghiên cứu về tiêu dùng cá nhân (Phạm Thị Lan Hương, 2014; Hoàng Thị Bảo Thoa, 2016), mua sắm công xanh (Lưu Quốc Đạt, 2015; Hồ Công Hòa và cs, 2018), quản lý chuỗi cung ứng xanh (Vũ Anh Dũng và Vũ Hồng Nhung, 2015; Nguyễn Bình Minh, 2016; Nguyễn Thị Yến, 2016; Dương Văn Bảy và cs, 2017; Nguyễn Thành Hiếu và cs, 2017) và lựa chọn nhà cung cấp xanh bằng mô hình AHP - TOPSIS (Lưu Quốc Đạt và cs, 2017 tại Canon Việt Nam).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các nghiên cứu quốc tế trước đây chủ yếu thực hiện tại các nước phát triển hoặc xem xét rời rạc từng nhóm áp lực đơn lẻ. Chưa có nghiên cứu nào xây dựng mô hình tích hợp đồng thời cả nhân tố bên ngoài, nhân tố bên trong cùng cơ chế tác động gián tiếp qua trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đối với việc mua sắm xanh nguyên vật liệu đầu vào tại các doanh nghiệp sản xuất ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng ba lý thuyết nền tảng trong quản trị học:

  • Lý thuyết thể chế (Institutional Theory): Giải thích các áp lực từ môi trường bên ngoài gồm quy định pháp lý của chính phủ, tiêu chuẩn ngành, áp lực từ khách hàng và xã hội định hình hành vi mua sắm xanh của doanh nghiệp.
  • Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV): Giải thích các rào cản và động lực nội tại liên quan đến nguồn lực tài chính, năng lực nhân sự, chi phí chuyển đổi và cam kết của ban lãnh đạo.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984; Donaldson & Preston, 1995; Fineman & Clarke, 1996): Giải thích tác động của các đối tác trong chuỗi cung ứng (nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh) và vai trò trung gian của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR theo mô hình 4 bậc của Carroll, 1979, 1991 và quan điểm của Trần Hoàng Hải, 2016).

Luận án phân biệt rõ hai khái niệm "Purchasing" và "Procurement" dựa trên nghiên cứu của Trường Hậu cần và Hàng hải Việt Nam (2017), Ellram và Carr (1994), Monczka và cs (1998):

Tiêu chí Mua hàng (Purchasing) Mua sắm (Procurement)
Bản chất hoạt động Đề cập đến việc hàng hóa/dịch vụ được đặt hàng ra sao Đề cập đến lý do hàng hóa/dịch vụ được đặt và đến từ đâu
Định hướng Mang tính giao dịch ngắn hạn Mang tính chiến thuật và chiến lược dài hạn
Mối quan hệ nhà cung ứng Làm việc với các nhà cung cấp sẵn có Tìm kiếm nhà cung cấp mới, phát triển quan hệ hợp tác
Liên kết nội bộ Ít liên kết chặt chẽ với các bên hữu quan trong đơn vị Xây dựng quan hệ gắn kết với các bên hữu quan nội bộ
Thước đo thành công Đúng hàng hóa, đúng thời điểm, giá rẻ nhất Tiết kiệm chi phí, giảm thiểu rủi ro, tối ưu hóa tổng chi phí
Trọng tâm quản lý Tập trung vào giá mua trực tiếp thấp nhất Tập trung vào tổng chi phí sở hữu (Total Cost of Ownership - TCO)

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng quy trình kết hợp định tính và định lượng:

  1. Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu các chuyên gia, giám đốc/phó giám đốc doanh nghiệp, trưởng/phó phòng mua hàng nhằm điều chỉnh và hoàn thiện thang đo sơ bộ (thang đo lần 1 thành thang đo lần 2). Kết hợp phân tích tình huống thực tế (case study) tại doanh nghiệp.
  2. Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để sàng lọc biến quan sát.
  3. Nghiên cứu định lượng chính thức:
    • Mẫu khảo sát: Phát phiếu điều tra bảng hỏi tới các nhà quản lý, cán bộ phụ trách mua hàng tại các doanh nghiệp sản xuất (nhà nước, tư nhân, FDI) thuộc các ngành dệt may, da giày, giấy, linh kiện điện tử tại Việt Nam trong năm 2019.
    • Công cụ và kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha, độ tin cậy tổng hợp CR, tổng phương sai trích AVE), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình hóa phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định Bootstrap và kiểm định sự khác biệt (ANOVA/t-test).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu mua sắm qua 5 giai đoạn phát triển từ trước năm 1945 đến nay. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu quốc tế về mua sắm xanh, các chiến lược mua xanh (Lamming & Hanson, 1996; Bowen & cs, 2006; Hamner, 2006; Blome & cs, 2013) và các yếu tố tác động (áp lực pháp lý, khách hàng, chi phí, cam kết lãnh đạo, nhà cung ứng). Chương này đánh giá thực trạng nghiên cứu tại Việt Nam (chủ yếu về tiêu dùng cá nhân, mua sắm công, chuỗi cung ứng xanh tổng thể) và xác định rõ khoảng trống nghiên cứu về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào tại doanh nghiệp sản xuất.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Chương 2 thiết lập hệ thống khái niệm về yếu tố đầu vào (vật liệu chính, vật liệu phụ theo Thông tư 200/2014/TT-BTC), phân biệt mua hàng (purchasing) và mua sắm (procurement), khái niệm mua sắm xanh và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR). Tác giả phân tích vai trò của mua sắm xanh trên ba khía cạnh: kinh tế (tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành), xã hội (cải thiện hình ảnh thương hiệu, thúc đẩy lối sống xanh), môi trường (giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên). Chương này trình bày lịch sử chính sách mua sắm xanh tại Hoa Kỳ (Luật RCRA 1976, EPA 1993, lệnh hành pháp năm 2000), Châu Âu (mua sắm công xanh tại Đức, Đan Mạch, Pháp, Áo, Thụy Điển), Nhật Bản (Luật thúc đẩy mua sắm xanh 2001, Luật tái chế bao bì 1995), Hàn Quốc (dán nhãn môi trường 1992), Trung Quốc (Quyết định năm 2006). Trên cơ sở lý thuyết thể chế, RBV và lý thuyết các bên liên quan, tác giả xây dựng khung các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động mua sắm xanh.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ quy trình thiết kế nghiên cứu từ nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu chuyên gia mua hàng) đến nghiên cứu định lượng sơ bộ và chính thức. Tác giả xây dựng bảng hỏi, thiết lập thang đo Likert 5 mức độ cho các biến: hoạt động mua sắm xanh đầu vào, các nhân tố bên ngoài (quy định môi trường, áp lực khách hàng, áp lực cạnh tranh, rào cản nhà cung cấp), các nhân tố bên trong (cam kết ban lãnh đạo, trách nhiệm xã hội, lợi ích kỳ vọng, rào cản chi phí, rào cản nhân lực) và các biến kiểm soát đặc điểm doanh nghiệp (quy mô, loại hình sở hữu, thị trường hoạt động). Quy trình kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, CFA và ước lượng mô hình SEM được mô tả cụ thể.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày bối cảnh thực thi chính sách mua sắm xanh tại Việt Nam và mô tả đặc điểm mẫu khảo sát. Các kiểm định thống kê được thực hiện qua các bước: kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích EFA lần 2, phân tích CFA chuẩn hóa, đánh giá chỉ số thích hợp mô hình (GFI, TLI, CFI), kiểm tra giá trị hội tụ (AVE) và giá trị phân biệt. Kết quả phân tích cấu trúc SEM (lần 1 và lần 2) cùng kiểm định Bootstrap xác nhận mức độ tác động của các nhân tố đến hoạt động mua sắm xanh. Chương này cũng phân tích thực trạng mức độ áp dụng mua sắm xanh các yếu tố đầu vào và kiểm định ANOVA/t-test về sự khác biệt theo quy mô, loại hình sở hữu và thị trường của doanh nghiệp.

Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

Chương 5 tổng kết các kết quả chính và nêu bật đóng góp lý thuyết, thực tiễn của đề tài. Tác giả đề xuất nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp sản xuất: (1) Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý môi trường và chứng nhận ISO 14001; (2) Tăng cường liên kết giữa nhà cung cấp – nhà sản xuất – nhà phân phối – khách hàng; (3) Nâng cao nhận thức, cam kết của ban lãnh đạo đối với CSR và mua sắm xanh. Đồng thời, đề xuất nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước: (1) Hoàn thiện khung chính sách, thể chế hướng dẫn thực hiện mua sắm xanh và các cơ chế ưu đãi tài chính, thuế; (2) Tuyên truyền thay đổi hành vi tiêu dùng, xây dựng lối sống thân thiện môi trường. Cuối chương nêu rõ hạn chế của luận án và định hướng nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý thuyết và học thuật

  1. Xác định các nhân tố tác động trực tiếp: Mô hình nghiên cứu chứng minh có 7 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, bao gồm 3 nhân tố bên ngoài và 4 nhân tố nội tại. Trong đó:
    • Hai nhân tố bên ngoài tác động tích cực và mạnh nhất là: Áp lực từ phía khách hàng và Các quy định môi trường.
    • Hai nhân tố tác động ngược chiều (rào cản cản trở hoạt động mua sắm xanh) là: Rào cản từ phía nhà cung cấp và Rào cản về chi phí.
  2. Xác định vai trò trung gian của Trách nhiệm xã hội (CSR): Luận án chứng minh 4 nhân tố tác động gián tiếp tích cực đến hoạt động mua sắm xanh thông qua biến trung gian trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, bao gồm: Áp lực từ phía khách hàng, Các quy định môi trường, Áp lực cạnh tranh và Cam kết của ban lãnh đạo. Kết quả này củng cố giá trị giải thích của lý thuyết thể chế và lý thuyết các bên liên quan trong bối cảnh doanh nghiệp sản xuất tại thị trường mới nổi.
  3. Xác định sự khác biệt theo đặc tính doanh nghiệp:
    • Theo loại hình sở hữu: Doanh nghiệp FDI có mức độ thực hiện mua sắm xanh cao nhất, tiếp theo là doanh nghiệp tư nhân, và thấp nhất là doanh nghiệp nhà nước.
    • Theo thị trường tiêu thụ: Doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu thực hiện mua sắm xanh nhiều hơn doanh nghiệp chỉ phục vụ thị trường nội địa.
    • Theo quy mô: Doanh nghiệp quy mô lớn tham gia mua sắm xanh nhiều hơn các doanh nghiệp quy mô vừa, nhỏ hoặc siêu nhỏ.

Đóng góp thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Đối với doanh nghiệp sản xuất:
    • Xem mua sắm xanh là công cụ chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, tiết kiệm năng lượng, cải thiện hình ảnh thương hiệu và giảm thiểu rủi ro pháp lý.
    • Tích cực triển khai Hệ thống Quản lý Môi trường (EMS) và đạt chứng nhận tiêu chuẩn ISO 14001.
    • Tăng cường liên kết dọc với các nhà cung ứng nguyên vật liệu xanh; chủ động cung cấp thông số kỹ thuật, đánh giá và hỗ trợ nhà cung ứng đạt tiêu chuẩn môi trường.
    • Các đơn vị sản xuất nguyên vật liệu xanh cần tăng cường độ sẵn có của sản phẩm qua các kênh phân phối, gắn nhãn sinh thái và minh bạch thông số kỹ thuật.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
    • Hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về tiêu chuẩn xanh cho nguyên vật liệu đầu vào trong sản xuất.
    • Xây dựng chính sách khuyến khích kinh tế như ưu đãi tín dụng, giảm thuế, hỗ trợ vốn đầu tư cho doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch và mua sắm xanh.
    • Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về tiêu dùng sản phẩm xanh nhằm tạo sức ép thị trường thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án:

  • Về đối tượng khảo sát: Luận án chỉ tập trung vào nhóm doanh nghiệp sản xuất thuộc một số ngành công nghiệp cụ thể (dệt may, da giày, sản xuất giấy, linh kiện điện tử), chưa bao quát toàn bộ các phân ngành sản xuất công nghiệp khác cũng như khu vực doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
  • Về phạm vi yếu tố đầu vào: Nghiên cứu giới hạn ở nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ (bao bì, phụ gia), chưa mở rộng sang các yếu tố đầu vào khác như máy móc thiết bị công nghệ lớn, năng lượng hoặc dịch vụ vận hành.
  • Về địa bàn và thời gian khảo sát: Mẫu khảo sát tập trung tại một số đô thị và thành phố lớn trong năm 2019, chưa bao phủ toàn diện các vùng kinh tế trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành dịch vụ, thương mại; khảo sát thêm các dạng tài sản đầu vào khác; thu thập dữ liệu bảng (panel data) theo chuỗi thời gian nhiều năm để theo dõi sự biến động trong hành vi mua sắm xanh của doanh nghiệp Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp (Lý thuyết thể chế, RBV, Stakeholder Theory), hệ thống thang đo đánh giá hoạt động mua sắm xanh đầu vào, thang đo các rào cản và động lực thúc đẩy, cùng quy trình phân tích định lượng SEM trên AMOS.
  2. Lãnh đạo và cán bộ quản lý thu mua tại doanh nghiệp sản xuất: Sử dụng bảng tiêu chí phân biệt giữa "purchasing" và "procurement", các quy trình kiểm soát nhà cung cấp xanh, giải pháp thiết lập chuỗi cung ứng bền vững và tối ưu hóa tổng chi phí sở hữu (TCO).
  3. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Tham khảo dữ liệu thực nghiệm về thực trạng mua sắm xanh tại các doanh nghiệp FDI, tư nhân, nhà nước để xây dựng tiêu chuẩn nhãn sinh thái, hoàn thiện khung chính sách thuế và chiến lược sản xuất tiêu dùng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào được định nghĩa như thế nào trong luận án?

Theo luận án, mua sắm xanh các yếu tố đầu vào là quá trình doanh nghiệp lựa chọn các nguyên liệu, vật liệu chính và phụ (phụ gia, bao bì đóng gói) không gây hại hoặc ít gây hại tới môi trường và sức khỏe con người so với các sản phẩm thay thế; thể hiện trách nhiệm xã hội, đồng thời tích hợp các tiêu chí môi trường bên cạnh các tiêu chí truyền thống như chi phí, chất lượng và thời gian giao hàng.

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa hai khái niệm "Purchasing" và "Procurement" trong luận án là gì?

"Purchasing" (mua hàng) mang tính giao dịch ngắn hạn, tập trung thuần túy vào việc đặt hàng, nhận hàng, thanh toán và tìm kiếm mức giá mua trực tiếp rẻ nhất từ các nhà cung ứng hiện có. Trong khi đó, "Procurement" (mua sắm) mang tính chiến lược dài hạn, bao gồm toàn bộ chuỗi quy trình từ lập kế hoạch, tìm nguồn, lựa chọn và phát triển nhà cung ứng, đàm phán, quản trị hợp đồng đến đánh giá rủi ro và tối ưu hóa tổng chi phí sở hữu (TCO).

3. Những nhân tố nào ảnh hưởng trực tiếp mạnh nhất và những nhân tố nào là rào cản đối với mua sắm xanh?

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hai nhân tố bên ngoài có tác động tích cực và mạnh nhất đến hoạt động mua sắm xanh là Áp lực từ phía khách hàng và Các quy định môi trường. Ngược lại, hai nhân tố đóng vai trò rào cản cản trở hoạt động mua sắm xanh là Rào cản từ phía nhà cung cấp (sự khan hiếm nguồn cung, thiếu thông tin kỹ thuật) và Rào cản về chi phí.

4. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đóng vai trò gì trong mô hình nghiên cứu?

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò là biến trung gian. Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy bốn nhân tố (Áp lực khách hàng, Quy định môi trường, Áp lực cạnh tranh, Cam kết của ban lãnh đạo) có tác động gián tiếp tích cực thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh thông qua việc nâng cao nhận thức và hành động thực hiện CSR của doanh nghiệp.

5. Hoạt động mua sắm xanh có sự khác biệt như thế nào giữa các nhóm doanh nghiệp?

Kiểm định thống kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa: doanh nghiệp FDI thực hiện mua sắm xanh nhiều nhất, kế tiếp là doanh nghiệp tư nhân và thấp nhất là doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp phục vụ thị trường xuất khẩu thực hiện mua sắm xanh cao hơn doanh nghiệp chỉ bán nội địa; doanh nghiệp quy mô lớn có mức độ tham gia mua sắm xanh cao hơn doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hương Giang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kiểm định thực nghiệm mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ vai trò quyết định của áp lực khách hàng, quy định môi trường cũng như tác động trung gian của trách nhiệm xã hội (CSR), đồng thời chỉ ra các rào cản chính về chi phí và nhà cung cấp. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách vĩ mô và định hướng chiến lược quản trị chuỗi cung ứng bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.