CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1. Khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu 1. Khái niệm về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Theo quy tắc mẫu về dịch vụ giao nhận vận tải của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) định nghĩa: “Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ kể trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng cứ liên quan đến hàng hóa.” Nói một cách ngắn gọn, dịch vụ giao nhận là tập hợp những dịch vụ thương mại có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng), trong đó người giao nhận (Freight forwarder) ký hợp đồng vận chuyển với chủ hàng, đồng thời ký hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực hiện dịch vụ. Vai trò của dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Với xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, ngành giao nhận bằng đường biển với sự ra đời rất sớm hiển nhiên trở thành một phương thức hữu hiệu trong việc luân chuyển hàng hóa.
Với diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất đã hình thành hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế, giao nhận vận tải bằng đường biển gần như giữ vị trí số một trong chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới. Cho đến nay, vận tải biển chiếm gần 80% tổng khối lượng hàng hóa chuyên chở trong buôn bán quốc tế và được xem là loại hình vận tải có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển kinh tế quốc tế. Đối với Việt Nam, dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường biển có thể coi là một trong những ngành “chủ lực”. Với chiều dài bờ biển là 3.260 km, cùng với nhiều cảng biển cùng với số lượng lớn tàu hàng siêu tải trọng, vận tải biển trở thành yếu tố chủ chốt trong tăng trưởng kinh tế nước ta.
− Giúp tiết kiệm, giảm chi phí trong quá trình lưu thông phân phối: Dịch vụ giao nhận càng hoàn thiện càng tiết kiệm cho chi phí vận tải và các chi phí phát sinh trong quá trình lưu thông, đẩy nhanh tốc độ quay vòng của các phương tiện vận tải, công cụ vận tải và các phương tiện phụ trợ khác. Do đó, làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường giảm xuống, mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng, tăng yếu tố cạnh tranh trong các doanh nghiệp. 4 Thư viện ĐH Thăng Long − Góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế: Dịch vụ có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường nước ngoài đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Đồng thời, thúc đẩy các mối quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường.
− Góp phần hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ kinh doanh quốc tế, nâng cao hiệu quả pháp lý: Sự phát triển của giao nhận quốc tế bằng đường biển góp phần cải tiến hệ thống văn bản, thủ tục liên quan theo hướng hiệu quả hơn, tiết kiệm chí phí và đơn giản hóa, giúp quy trình kinh doanh xuất nhập khẩu thuận lợi hơn. Từ đó giúp gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận. Các loại hình dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng container đường biển - Vận chuyển hàng nguyên (FCL – Full Container Load) là nghiệp vụ được áp dụng khi khối lượng hàng hóa lớn và đồng nhất đủ chứa đầy một hoặc nhiều container. Người gửi hàng và nhận hàng chịu trách nhiệm xếp hàng vào và dỡ hàng ra khỏi kho.
- Vận chuyển hàng lẻ (LCL – Less than Container Load) là nghiệp vụ vận chuyển hàng hoá nhỏ lẻ, áp dụng khi người gửi hàng có kiện hàng nhỏ muốn đóng chung vào container cùng những loại hàng khác để tiết kiệm chi phí. Người gom hàng (Consolidator) sẽ có trách nhiệm đứng ra tập hợp những lô hàng lẻ từ các chủ hàng, tiến hành phân loại, sắp xếp và đóng hàng vào container, niêm phong theo quy định, làm thủ tục hải quan, đưa container lên tàu, dỡ container xuống bãi và giao hàng cho người nhận. - Vận chuyển kết hợp (FCL/LCL – LCL/FCL) là sự kết hợp của 2 phương thức FCL và LCL. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, chủ hàng sẽ thoả thuận với người chuyên chở để áp dụng phương pháp gửi hàng kết hợp.
Cụ thể, FCL/LCL là phương thức gửi nguyên, giao lẻ; LCL/FCL là phương thức gửi lẻ giao nguyên. Khi giao hàng bằng phương thức kết hợp, trách nhiệm của chủ hàng và người chuyên chở cũng có sự thay đổi phù hợp. Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển 1. Cơ sở pháp lý Việc giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển được điều chỉnh bởi các Công ước quốc tế về vận đơn, vận tải; về hợp đồng mua bán hàng hoá như: Công 5 ước Brussels 1924 về vận đơn hàng hóa; Công ước Hamburg 1978 của Liên hợp quốc; Công ước Vienne 1980 về buôn bán hàng hóa quốc tế; Quy tắc Rotterdam 2010.
Bên cạnh các công ước quốc tế, Việt Nam đã xây dựng các bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật gồm: Luật thương mại 2005; Bộ luật hàng hải 2015; Luật hải quan 2014; Nghị định 25/CP, 330/CP; Quyết định số 2106/QĐ-GTVT ngày 23/8/1997 liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hoá tại cảng biển Việt Nam… Và các loại hợp đồng và Thư tín dụng đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp. Nguyên tắc giao nhận hàng hóa bằng đường biển Một số văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại các cảng biển Việt nam như sau: − Việc giao nhận hàng hóa Xuất nhập khẩu tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng. − Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho) thì các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải. Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí có liên quan.
− Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận với cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng. − Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ. Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển - Quy trình làm hàng xuất khẩu: + Bước 1: Xin giá và thỏa thuận dịch vụ với khách hàng + Bước 2: Đặt booking và lấy container rỗng + Bước 3: Chuẩn bị và kiểm tra hàng xuất + Bước 4: Đóng gói hàng, ký hiệu chuyên chở (Shipping Mark) + Bước 4: Làm thủ tục hải quan 6 Thư viện ĐH Thăng Long + Bước 5: Giao hàng cho tàu + Bước 6: Lập chứng từ kế toán và lưu file - Quy trình làm hàng nhập khẩu: + Bước 1: Thỏa thuận dịch vụ với khách hàng + Bước 2: Nhận và kiểm tra bộ chứng từ + Bước 3: Khai và truyền tờ khai hải quan + Bước 4: Lấy lệnh giao hàng + Bước 5: Chuẩn bị hồ sơ hải quan + Bước 6: Nộp thuế và hoàn tất thủ tục hải quan + Bước 7: Làm thủ tục đổi lệnh và chuyển hàng hóa về kho khách hàng + Bước 8: Quyết toán phí dịch vụ và sao lưu hồ sơ ( Nguồn: Quy trình xuất nhập khẩu hàng hóa – Vinacontrol) 1.
Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển 1. Môi trường vĩ mô Môi trường kinh tế: Đây là nhân tố có tầm ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động giao nhận hàng hoá bằng đường biển. Về cơ bản, môi trường kinh tế ảnh hương trực tiếp đến mức độ tăng trưởng và định hướng phát triển của ngành. Cụ thể, GDP tăng, kéo theo thu nhập bình quân đầu người và lượng cầu về hàng hóa, dịch vụ tăng theo.
Đó là cơ hội cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất nhập khẩu nhằm đáp ứng thị trường, đây chính là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận gia tăng quy mô, doanh thu của mình. Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên của từng vùng, lãnh thổ trên thế giới là khác nhau về: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, địa hình,… Điều kiện tự nhiên sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu giao nhận hay quá trình vận tải hàng hóa. Hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của các biến động của thời tiết như bão, sóng thần,… có thể ảnh hưởng đến điều kiện bảo quản hàng hóa hay làm chậm trễ, trì hoãn quá trình giao hàng. Đồng thời, thiên tai cũng có thể gây thiệt hại cho tàu, người và tài sản.
Môi trường khoa học, công nghệ: Với sự phát triển của thời đại công nghệ 4.0, những nhân tố về khoa học công nghệ cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh 7 doanh quốc tế của các doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ vào khai báo hải quan, đổi mới quy trình giao nhận,… đã giúp các công ty giao nhận quốc tế bằng đường biển có thể hoàn thiện hơn trong dịch vụ cũng như trong việc chăm sóc khách hàng Môi trường chính trị - pháp luật: Một quốc gia có môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ là cơ hội để doanh nghiệp phát triển ổn định. Môi trường này cũng ảnh hưởng đến việc hoạch định và tổ chức chiến lược kinh doanh. Thêm vào đó, việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa các nước và tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế giúp các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận mở ra con đường thuận lợi hơn.