phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc kết cấu 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giải phóng mặt bằng Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng về hoạt động giải phóng mặt bằng tại huyện Diễn Châu Chƣơng 4: Giải pháp nhằm nâng cao hoạt động giải phóng mặt bằng tại huyện Diễn Châu. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, giải phóng mặt bằng có nhiều đổi mới. Trong quá trình đổi mới và hoàn thiện đó đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến GPMB: Mai Đức Thịnh: “Những biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ GPMB ở một số dự án trên địa bàn Hà Nội tại công ty đầu tƣ phát triển nhà số 2”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 2003.
Nguyễn Việt Hùng: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh công tác GPMB trong thực hiện các dự án đầu tƣ trên địa bàn huyện Gia Lâm”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Quốc gia, Hà Nội 2008. Trần Thu Hằng: “Tìm hiểu chính sách đền bù thiệt hại, tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất trong thời gian qua ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Đại học Quốc gia, Hà nội 2007. Công tác bồi thƣờng GPMB trong những năm vừa qua tuy đã đạt đƣợc nhiều thành tựu nhƣng bên cạnh đó nhiều dự án GPMB không thực hiện đƣợc hoặc tiến độ chậm trễ gây thiệt hại cho nhà nƣớc và xã hội mà nguyên nhân chủ yếu không đâu khác chính là do ách tắc ở khâu bồi thƣờng GPMB. Tuy công tác bồi thƣờng GPMB hiện nay còn nhiều bất cập, vƣớng mắc, khó khăn khi thực hiện nhƣng hầu nhƣ chƣa có đề tài nào nghiên cứu tổng quan về thực trạng của công tác này trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng nhƣ các địa phƣơng của thành phố.
Phần lớn các ấn phẩm sách và đề tài nghiên cứu mới chỉ dừng ở việc phân tích, tuyên truyền các văn bản chính sách pháp luật trong lĩnh vực bồi thƣờng GPMB; hoặc cũng mới chỉ đánh giá đƣợc tình hình công tác bồi thƣờng GPMB ở một vài dự án cụ thể của một vài quận huyện. 4 z Mặc dù các đề tài đã hệ thống hoá lý luận và thực tiễn đối với công tác GPMB trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào nhấn mạnh đến quản lý nhà nƣớc đối với GPMB trên địa bàn cấp huyện. Vì vậy trong luận văn này tôi sẽ tập trung mô tả bức tranh toàn cảnh của hoạt động GPMB trên địa bàn huyện Diễn Châu, huyện Diễn Châu đã thực hiện hoạt động GPMB nhƣ thế nào, những vấn đề còn tồn tại vƣớng mắc trong phần lớn các dự án để từ đó có đƣợc những giải pháp thiết thực cho hoạt động GPMB trong thời gian sắp tới của huyện.
Cơ sở lý luận về hoạt động giải phóng mặt bằng 1. Khái niệm, sự cần thiết của hoạt động giải phóng mặt bằng 1. Khái niệm Hoạt động GPMB là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà đối với công tác thu hồi đất phục vụ quốc phòng an ninh và các dự án phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các công đoạn: từ bồi thƣờng cho đối tƣợng sử dụng đất giải toả các công trình trên đất, di chuyển ngƣời dân tạo mặt bằng cho triển khai dự án đến việc hỗ trợ cho ngƣời bị thu hồi đất, tái tạo lại chỗ ở, việc làm, thu nhập, ổn định cuộc sống. Sự cần thiết của hoạt động giải phóng mặt bằng Trong quá trình phát triển đất nƣớc, luôn diễn ra quá trình phân bổ lại đất đai cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Khi các ngành sản xuất công nghiệp, giao thông, du lịch, giáo dục, dịch vụ, thƣơng mại… tăng dần tỷ trọng trong tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (GDP) thì việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm nhà ở sang đất chuyên dùng sử dụng vào các mục đích công nghiệp, giao thông, du lịch, thƣơng mại… là điều tất yếu và diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Một quốc gia ngày càng phát triển thì tỷ lệ đất chuyên dùng ngày càng cao và tỷ lệ đất nông nghiệp càng thấp. Vấn đề đặt ra là Nhà Nƣớc cần có quy 5 z hoạch, kế hoạch để sử dụng đất một cách khoa học, phù hợp, đồng thời cần có những chính sách quy định để vừa đảm bảo quyền lợi chung của xã hội lại vừa đảm bảo đƣợc quyền lợi hợp pháp của ngƣời có đất bị Nhà nƣớc thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Thực tế hiện nay cho thấy, công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nƣớc thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, nhân văn của nhiều ngƣời, của cả cộng đồng dân cƣ.
Giải quyết không tốt không thoả đáng quyền lợi của ngƣời có đất bị thu hồi và những ngƣời bị ảnh hƣởng khi thu hồi đất dễ bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông ngƣời làm cho tình hình trở nên phức tạp, từ đó gây ra sự mất ổn định về kinh tế, xã hội, chính trị nói chung. Quá trình thực hiện bồi thƣờng, GPMB để thực hiên các dự án xây dựng luôn phải giải quyết dung hoà mâu thuẫn về lợi ích của hai nhóm đối tƣợng: - Ngƣời đƣợc giao đất (trong đó có cả cơ quan nhà nƣớc) luôn tìm cách giảm chi phí bồi thƣờng GPMB nhằm hạ giá thành xây dựng, tiết kiệm chi phí sản xuất. - Ngƣời bị thu hồi đất luôn đòi hỏi đƣợc trả một khoản bồi thƣờng “ càng nhiều càng tốt” mà trƣớc hết phải là thoả đáng, mặt khác trong nội bộ những ngƣời đƣợc đền bù có ngƣời chấp hành tốt chính sách pháp luật đất đai của Nhà nƣớc, có ngƣời chấp hành chƣa tốt, do đó đòi hỏi phải xử lý sao cho công bằng cũng là một việc hết sức khó khăn. Giải phóng mặt bằng là vấn đề vừa có tính thời vụ vừa mang tính cấp bách của phát triển mà nhiều nƣớc đang phải đƣơng đầu.
Trong những năm gần đây vấn đề này trở thành trung tâm của dƣ luận, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà đầu tƣ. Thực tiễn chứng minh rằng làm tốt công tác giải phóng mặt bằng không chỉ tạo đƣợc môi trƣờng thông thoáng cho phát triển, thu hút đƣợc đầu tƣ mà 6 z còn góp phần làm lành mạnh nhiều quan hệ xã hội, củng cố đƣợc lòng tin của nhân dân, khắc phục tệ quan liêu, chống tham nhũng. Giải phóng mặt bằng là vấn đề của sự phát triển. Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, mọi giai đoạn việc giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình là không thể tránh khỏi, nhịp độ phát triển càng lớn thì nhu cầu giải phóng mặt bằng càng cao và trở thành một thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn ở trong các lĩnh vực xã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia.
Các yêu cầu ngày càng hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống cấp thoát nƣớc, hệ thống giao thông, hệ thống tải điện) cơ sở hạ tầng xã hội (bệnh viện, trƣờng học, khu vui chơi giải trí thể dục thể thao…) cơ sở sản xuất (quy hoạch đồng ruộng, khu công nghiệp) và mở rộng đô thị chỉnh trang khu dân cƣ… đều dẫn đến việc đền bù giải phóng mặt bằng ngày càng phức tạp khó khăn và rất dễ xẩy ra nhiều tổn thất nhất là trong những trƣờng hợp không tự nguyện. Vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của phát triển, nếu không xử lý tốt thì sẽ thành lực cản - thực tế đầu tiên mà các nhà phát triển phải vƣợt qua. Bài học từ các nƣớc phát triển dạy rằng nếu xem nhẹ vấn đề này trong tính toán đầu tƣ phát triển thì không chỉ làm tăng giá thành mà còn để lại xã hội nhiều hậu quả nặng nề mà không thể xử lý đƣợc bằng tiền. Có thể khẳng định rằng giải phóng mặt bằng là vấn đề của sự phát triển, là một nội dung không thể né tránh của phát triển mà chính nó là một yếu tố quyết định của tiến độ và sự thành công của phát triển, bất kỳ một giải pháp nào mà thiếu đồng bộ, không chặt chẽ đều để lại những hậu quả tiêu cực.
Nhận thức này dẫn đến một yêu cầu cụ thể là các dự án xây dựng phải chứng minh đƣợc đó là sự lựa chọn mà việc đền bù giải phóng mặt bằng là ít nhất và khả thi nhất, yêu cầu này có thể trở thành tiêu chuẩn cụ thể để xét duyệt các phƣơng án phát triển. Nội dung, tiêu chí đánh giá hoạt động giải phóng mặt bằng 1. Nội dung của hoạt động giải phóng mặt bằng - Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xây dựng Thực hiện và làm tốt việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã là cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất. Phân bổ quỹ đất đai hợp lý cho các ngành, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả; tạo điều kiện cho các dự án đầu tƣ, hình thành các vùng sản xuất tập trung nhằm khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh đất đai ở từng vùng.
Tổ chức sử dụng đất đúng mục đích còn hạn chế việc lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt đất trồng lúa, đất có rừng phòng hộ và rừng đặc dụng); ngăn chặn các hiện tƣợng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trƣờng bảo đảm an ninh - chính trị. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã thực sự trở thành công cụ cho công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai, là căn cứ pháp lý để giao đất, thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất.