ĐẶT VẤN ĐỀ Các nguyên tắc chỉ đạo du lịch là những luật lệ, hay những hƣớng dẫn cho du lịch. Nó có thể áp dụng với từng nhóm đối tƣợng tham gia hoạt động du lịch, bao gồm chính quyền địa phƣơng, các cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch và những ngƣời tham gia dịch vụ du lịch nói chung. Ở các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn và các khu rừng nói chung, phát triển nguyên tắc chỉ đạo nhƣ những công cụ quan trọng để giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trƣờng ở vƣờn quốc gia hay các hệ sinh thái rừng nói chung. Nguyên tắc chỉ đạo du lịch sẽ góp phần quan trọng vào điều chỉnh nhận thức và hành vi của du khách theo hƣớng thân thiện với rừng và có trách nhiệm với cộng đồng địa phƣơng.
Tuy nhiên, việc phát triển và áp dụng những nguyên tắc chỉ đạo hoạt động du lịch ở các khu rừng thủ đô còn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Nó không những làm giảm hiệu quả của du lịch mà còn tạo áp lực của du lịch đến các hệ sinh thái rừng của Thủ đô. Vì vậy, nghiên cứu hiện trạng và hoàn thiện bộ nguyên tắc chỉ đạo du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nơi là giải pháp quan trọng để giảm thiểu những tác động tiêu cực của du lịch đến các hệ sinh thái rừng. Đề tài luận văn này bƣớc đầu nghiên cứu hiện trạng áp dụng các nguyên tắc chỉ đạo du lịch và đề xuất những chỉnh sửa, bổ sung các nguyên tắc chỉ đạo cần thiết nhất cho hoạt động du lịch ở rừng phòng hộ Sóc Sơn, Hà Nội.
Đây là một trong những khu rừng có tiềm năng phát triển du lịch cao của Thủ đô. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Du lịch ở các hệ sinh thái rừng Trong những thập kỷ gần đây du lịch nói chung đã trở thành một ngành công nghiệp dân sự quan trọng nhất trên thế giới.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO: World Tourism Organization), trong năm 2017 lƣợng khách du lịch đã lên đến hơn 1,3 tỷ ngƣời và dự báo sự gia tăng lƣợng khách du lịch trong hai thập kỷ tới là 4,1%/năm, đến năm 2020, lƣợng khách du lịch sẽ đạt 1,6 tỷ ngƣời (WTO, 2000). Nó sản sinh ra hàng ngàn tỷ USD mỗi năm, chiếm xấp xỉ 10% tổng sản phẩm của toàn cầu. Các khu vực tự nhiên, đặc biệt các Vƣờn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên đƣợc luật pháp công nhận cùng với các cảnh quan, động vật, thực vật, các yếu tố văn hóa hiện hữu của chúng - là những hấp dẫn chính đối với khách du lịch. Các tổ chức bảo tồn thấy tính thích hợp của phát triển du lịch và cũng nhận thức đƣợc các nguy hiểm mà du lịch không đƣợc quản lý nghiêm túc hay không đƣợc quản lý có thể gây ra cho các vƣờn quốc gia, các di sản thiên nhiên và văn hóa của quốc gia và thế giới.
Ngày nay, với con số chục triệu ngƣời đi du lịch mỗi năm đã tạo ra nhiều thử thách không thể lƣờng đƣợc cả về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội. Những tác động đó của du lịch có thể đƣợc chia thành hai dạng: Tác động trực tiếp và tác động gián tiếp. Về sinh thái, du lịch tự nhiên đã để lại sau nó những quang cảnh hoang tàn; Các loài thú hoang dã bị quấy nhiễu buộc phải rời bỏ nơi ở hoặc bị tiêu diệt dần, các cánh rừng bị tàn phá để lấy không gian làm nơi cắm trại, lấy củi đốt hoặc cung cấp hàng lƣu niệm v. Ngày càng có nhiều du khách và chính quyền địa phƣơng nhận thấy tác hại của du lịch thiên nhiên đến giá trị của chính thiên nhiên và những mối quan tâm của nhân dân địa phƣơng (David Western, 1999).
3 Về kinh tế, các nhà quản lý du lịch, quản lý các khu bảo tồn và chính quyền địa phƣơng đều có chung một điểm là họ thƣờng xuyên tìm kiếm lợi nhuận kinh tế từ du lịch tự nhiên. Tuy nhiên, mâu thuẫn về kinh tế càng làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác nhanh chóng và cạn kiệt hơn. Du lịch tự nhiên đã phát triển nhƣ một loại hình du lịch có ảnh hƣởng tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng địa phƣơng, loại hình sản xuất mà ngƣời dân luôn chịu “thiệt thòi” từ quá trình khai thác tài nguyên sinh thái. Về xã hội, các ảnh hƣởng của du lịch đến văn hóa - xã hội bản địa đã trở nên khá phổ biến ở nhiều quốc gia.
Sự phát triển du lịch quá mức gây ảnh hƣởng đến lối sống truyền thống của dân địa phƣơng và thƣờng không phải tốt hơn. Du lịch thiên nhiên đã phát triển nhƣ một nhân tố gây bất hòa trong nhân dân địa phƣơng. Nó không chú ý đầy đủ đến quyền lợi và mối quan tâm của cộng đồng. Nó nhƣ một nhân tố có thể phá hoại văn hóa cổ đại và làm hỏng nền kinh tế bản địa.
Làm thế nào để vừa phát triển đƣợc du lịch tự nhiên, vừa bảo vệ đƣợc thiên nhiên và những quyền lợi của ngƣời dân địa phƣơng. Một trong những giải pháp đƣợc xây dựng và hƣởng ứng là du lịch có hƣớng dẫn, du lịch có trách nhiệm với thiên nhiên và cộng đồng dân cƣ địa phƣơng. Ý tƣởng đó bắt đầu đƣợc thực hiện từ khoảng 30 năm gần đây và dần dần hình thành nên du lịch sinh thái ngày nay. Theo Hiệp hội du lịch sinh thái thì "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là du lịch bảo tồn môi trƣờng và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phƣơng”.
Du lịch sinh thái là một con đƣờng cứu thiên nhiên bằng cách thị trƣờng hóa nó nhƣng đạt đƣợc sự cân bằng giữa bảo tồn và du lịch. Với những mối quan tâm xã hội, du lịch sinh thái biến nhân dân địa phƣơng từ những ngƣời chịu “thiệt thòi” do hoạt động bảo tồn thành những ngƣời cộng tác và hƣởng lợi trong hoạt động bảo tồn, biến họ từ kẻ thù thành đồng minh trong hoạt động bảo tồn (Western, 1999). 4 Nhìn chung, du lịch sinh thái đang phát triển mạnh mẽ với xu hƣớng không thể cƣỡng lại đƣợc ở các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Nó sẽ trở thành nguồn lực quan trọng cho bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội.
Du lịch sinh thái một loại hình du lịch thân thiện với môi trƣờng, có trách nhiệm với thiên nhiên và cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng. Nó đƣợc đánh giá là một mắt xích của phát triển bền vững và yêu cầu một cách tiếp cận tổng hợp đa lĩnh vực, cần quy hoạch cẩn thận và hƣớng dẫn chỉ đạo và luật lệ nghiêm túc để có thể đảm bảo cho sự vận hành bền vững. Tác động của du lịch đến các hệ sinh thái rừng và tài nguyên thiên nhiên nói chung Những nghiên cứu cũng khẳng định du lịch sinh thái là một mắt xích của phát triển bền vững, là một nguồn lực cho phát triển bền vững, song nó yêu cầu một cách tiếp cận tổng hợp đa lĩnh vực, một quy hoạch tốt và hƣớng dẫn chỉ đạo thực hiện nghiêm túc để có thể đảm bảo cho sự vận hành bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện tại các khu bảo tồn hợp pháp đang chịu một áp lực từ du lịch sinh thái (Héctor Caballos - Lascurain, 1999) Ceballos - Lascurain, H.
Các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đang phải cố gắng để lo cho số lƣợng ngày một tăng của du khách đến các VQG và khu dự trữ thiên nhiên. Ngành du lịch đang bùng nổ với những chuyến tham quan thiên nhiên mới, theo phong cách du lịch sinh thái. Các tác giả chuyên viết về các chuyến du lịch đang cố để có đƣợc những thông tin mới nhất về sự đổi mới này, các băng hình về du lịch sinh thái đang trở nên dồi dào. Và khách du lịch - yếu tố quan trọng nhất của du lịch sinh thái đang ngày càng hƣớng về thiên nhiên hơn.
Họ xem những chuyến du lịch sinh thái nhƣ một phƣơng cách để hiểu biết hơn về môi trƣờng thiên nhiên (Héctor Caballos - Lascurain,1999). 5 Những nghiên cứu cũng chỉ ra về mặt lý thuyết những tác động của du lịch sinh thái tƣơng đối rõ ràng. Lợi ích tiềm tàng của du lịch sinh thái là tạo ra nguồn kinh phí cho các khu bảo tổn thiên nhiên, tạo công ăn việc làm cho những ngƣời dân sống gần khu bảo tồn thiên nhiên, thúc đẩy giáo dục môi trƣờng và nâng cao nhận thức về bảo tồn. Nhƣng cái giá tiềm năng phải trả là sự thoái hoá môi trƣờng, sự không công bằng và sự không ổn định về kinh tế và những thay đổi tiêu cực về văn hóa xã hội.
Điều đó làm xuất hiện những ý kiến lẫn lộn về du lịch sinh thái. Ngƣời ta cho rằng nhiệm vụ của các nhà bảo tồn là phải nhìn nhận du lịch sinh thái nhƣ một cơ hội cho bảo tồn và phát triển, và tìm ra công nghệ quản lý nó nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, tăng tối đa những lợi ích của du lịch sinh thái (Héctor Caballos - Lascurain, 1999). Những giải pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đến các hệ sinh thái rừng và môi trường nói chung Những con đƣờng thƣờng đƣợc sử dụng để giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đến các hệ sinh thái rừng và môi trƣờng nói chung là giáo dục môi trƣờng cho du khách, thiết lập những nguyên tắc chỉ đạo, thiết lập cơ chế giám sát môi trƣờng, quy hoạch du lịch sinh thái và mở rộng sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng và tăng cƣờng vai trò của cơ quan quyền lực với quản lý du lịch sinh thái. Các tác giả khẳng định giải pháp quan trọng để giảm thiểu tác động của du lịch sinh thái đến rừng là giáo dục môi trƣờng cho du khách thông qua các phƣơng tiện truyền thông của Nhà nƣớc, của địa phƣơng, của vƣờn quốc gia, của các bên có liên quan nhƣ hàng không, đƣờng sắt, đƣờng bộ, khách sạn v.
Con đƣờng thứ hai để giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trƣờng vƣờn quốc gia là xây dựng và thực hiện những nguyên tắc chỉ đạo du lịch. 6 Đó là những luật lệ, hay những hƣớng dẫn cho du lịch, nó có thể chiếu cố cùng lúc đến nhiều nhóm khách tham quan, cũng có thể hƣớng vào một nhóm có đặc điểm hoạt động riêng nhƣ hƣớng dẫn viên du lịch, nhân viên tiếp tân, nhân viên trong các quầy thông tin, nhân viên cửa hàng.