MỞ ĐẦU Điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng và đa dạng giữa vùng miền, đã đem lại cho đất nước Việt Nam một hệ sinh thái thực vật phong phú. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời sử dụng nhiều loại thảo dược trong điều trị bệnh và tăng cường sức khoẻ. Theo các nhà khoa học, Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao.000 loài được sử dụng làm dược liệu và thuốc chữa bệnh [1, 2]. Vai trò của nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng được nâng cao do có tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu phát triển các loại thuốc trong điều trị bệnh.
Hướng nghiên cứu tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học từ các cây thuốc truyền thống đang là lĩnh vực được nhiều nhà khoa học quan tâm. Đó là những nghiên cứu cơ bản về xác định thành phần hóa học và tìm ra hoạt chất thể hiện hoạt tính tác dụng chữa bệnh và nâng cao sức khỏe con người. Cho đến nay, trên thế giới đã tìm ra nhiều hợp chất có nguồn gốc tự nhiên sử dụng làm thuốc để điều trị và nâng cao sức khỏe. Ở Việt Nam, từ kinh nghiệm chữa trị sốt rét trong đông y, hoạt chất artemisinin được chiết xuất từ cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.) đã được sản xuất ở quy mô công nghiệp cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Tuy nhiên, còn có rất nhiều cây thuốc được sử dụng trong đông y và theo kinh nghiệm dân gian chữa các bệnh như ung thư và các bệnh viêm nhiễm nhưng chưa được nghiên cứu một cách khoa học để làm rõ công dụng và phát triển trở thành thuốc. Một số loài của chi Tacca được sử dụng trong y học cổ truyền ở một số nước dùng làm thuốc chữa các bệnh như viêm loét dạ dày, viêm ruột, viêm gan, v., là một trong những đối tượng đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đã công bố nhiều công trình nghiên cứu. Theo cơ sở dữ liệu Scifinder hiện có khoảng 60 công trình nghiên cứu công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của 6 trong tổng số 17 loài thuộc chi Tacca. Ở Việt Nam, đã thống kê được 6 loài thuộc chi Tacca.
Loài Tacca chantrieri đã được y học cổ truyền dùng làm thuốc chữa thấp khớp. Rễ, củ loài Tacca vietnamensis được dùng làm thuốc như Tacca chantrieri, lá được dân gian dùng làm rau ăn. Những nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học 2 của các loài thuộc chi Tacca ở Việt Nam còn rất hạn chế, mới chỉ có 3 công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học [1, 4-6]. Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Tacca vietnamensis và loài Tacca chantrieri ở Việt Nam”.
Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu thành phần hóa học chủ yếu của thân rễ hai loài Tacca vietnamensis và Tacca chantrieri ở Việt Nam. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào và hoạt tính kháng viêm của các hợp chất phân lập được để tìm kiếm hợp chất có hoạt tính sinh học. Nội dung luận án bao gồm: 1. Phân lập các hợp chất từ thân rễ loài Tacca vietnamensis và Tacca chantrieri ở Việt Nam bằng các phương pháp sắc ký; 2.
Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp vật lý và hóa học; 3. Đánh giá hoạt tính kháng viêm của các hợp chất phân lập được từ hai loài Tacca vietnamensis và Tacca chantrieri; 4. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập được từ loài Tacca chantrieri. Giới thiệu về chi Tacca 1.
Đặc điểm thực vật của chi Tacca Chi Tacca (Râu hùm) thuộc họ Taccaceae (Râu hùm), bộ Liliales (Hành), lớp Liliopsida (Một lá mầm), ngành Magnoliophyta (Mộc lan) [1, 7]. Theo thống kê từ trang theplantlist.org, hiện có 17 loài thuộc chi Tacca trên trên thế giới, bao gồm: T. integrifolia Ker Gawl. Chi Tacca phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung nhiều ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Australia, nhiều đảo trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương,… [1, 2, 8].
Ở Việt Nam, theo thống kê có 6 loài thuộc chi Tacca [1, 7]. Thông tin về các loài được nêu trong Bảng 1. Danh sách các loài thuộc chi Tacca ở Việt Nam TT Tên khoa học Tên thường gọi Phân bố 1 T. chantrieri André Râu hùm Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam.
integrifolia Ker-Gawl. Ngải rợm Lào Cai, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa, Đồng Nai.) Huyền tinh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa - Kuntze Vũng Tàu, An Giang, Kiên Giang. palmata Blume Nưa chân vịt Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu.) Hồi đầu Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Drenth Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. vietnamensis Thin et Râu hùm lớn Hà Nội, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hoat Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam, Ðà Nẵng.
4 Râu hùm (Tacca chantrieri) Râu hùm lớn (Tacca vietnamensis) Huyền tinh (Tacca leontopetaloides) Nưa chân vịt (Tacca palmata) Hồi đầu (Tacca plantaginea) Ngải rợm (Tacca integrifolia) Hình 1. Hình ảnh một số loài thuộc chi Tacca Chi Tacca là loại cây thân thảo. Lá đơn, hình bầu dục thót, nhọn về phía chóp, gốc hơi lệch, dài khoảng 25-65 cm, rộng 7-35 cm, lúc non có màu hơi tím lá già mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu lục nhạt. Cuống cụm hoa dài hơn cuống lá.
Bao hoa hình ống có nhiều thuỳ, nhị. Tán hoa có lá bắc tạo thành bao chung, các lá bắc con dạng sợi dài. Hoa lưỡng tính, thụ phấn nhờ côn trùng. Quả nạc có cánh, chứa nhiều hạt [1].
Tình hình sử dụng trong y học cổ truyền các loài thuộc chi Tacca Trên thế giới, một số loài thuộc chi Tacca được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị các loại bệnh khác nhau. Ở Trung Quốc, loài T. chantrieri được sử dụng để trị viêm loét dạ dày và tá tràng, viêm gan, huyết áp cao, bỏng lửa, lở ngứa. 5 Thân rễ loài T.
plantaginea được dùng làm thuốc trị đau dạ dày, viêm ruột, lao phổi, đòn ngã tổn thương, ung thũng. integrifolia được dùng chữa viêm dạ dày và hành tá tràng, viêm dạ dày mãn tính, sưng đau vòm họng; dùng ngoài để trị mụn nhọt lở ngứa. Ở Ấn Độ, rễ củ của loài T. leontopetaloides thường được sử dụng để chế biến món ăn và sử dụng làm thuốc trị lỵ.
Ngoài ra, ở Nuven Caledoni, loài T. leontopetaloides lại được dùng trị bệnh ngoài da và các vết rắn cắn. Ở Indonexia, phần củ loài T. palmata được sử dụng để làm lành vết thương và đắp vào vết rắn cắn; thân giã nát đắp vào rốn để trị đau dạ dày [1, 2, 7, 9].
Ở Việt Nam, theo thống kê các loài thuộc chi Tacca có tác dụng chữa một số bệnh, ngoài ra một số loài còn được sử dụng làm rau ăn (Bảng 1. Công dụng của các loài thuộc chi Tacca ở Việt Nam Tên Bộ Tên phận Tác dụng chữa bệnh theo kinh TT tiếng khoa học sử nghiệm dân gian Việt dụng 1 T. chantrieri André Râu hùm Thân Có vị cay đắng, tính mát; có tác dụng rễ thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết tán ứ. Dùng ngoài chữa thấp khớp.
integrifolia Ker- Ngải Toàn Có vị đắng, tính mát; có tác dụng lý khí Gawl rợm cây chỉ thống, khư ứ sinh tân và tiết ngược. Dùng chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh và tắc kinh.) Huyền Toàn Vị đắng, tính mát, có tác dụng lợi dạ Kuntze tinh cây dày và chữa thương. Bột củ Nếu chế biến kỹ dùng làm món ăn và thích hợp với người bị bệnh lỵ. Cũng dùng tốt cho người đi tiểu ra máu.
palmata Blume Nưa Thân Chữa điều hòa kinh nguyệt, giống Ngải chân vịt rễ rợm.) Hồi đầu Vị đắng, hơi the, tính bình, có tác dụng Drenth bổ huyết, làm tan máu ứ, thông kinh bế, tiêu viêm, điều hòa kinh nguyệt, giúp tiêu hóa nhuận tràng, lợi mật. Thường dùng chữa tiêu hóa kém, đau bụng, vàng da do viêm gan siêu vi trùng, ỉa chảy, thần kinh suy nhược, huyết áp cao, đau dây thần kinh tọa, thấp khớp. vietnamensis Thin et Râu hùm Thân Có thể sử dụng như loài Râu hùm. Lá Hoat lớn rễ có thể sử dụng làm rau ăn.
Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Tacca Trong những năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc và Nhật Bản, đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thuộc chi Tacca. Theo những công trình đã được công bố cho thấy, thành phần hóa học của chi Tacca, bao gồm các nhóm chất chính như: Taccalonolide, withanolide, withanolide glycoside, steroidal glycoside, pregnane glycoside, spirostanol saponin, furostanol glycoside, phenolic glycoside, steroidal saponin, sterol oligoglucoside, steroidal và diaryl heptanoid. Đây là các chất thuộc các lớp chất sterol, terpen, flavon,. trong đó lớp chất sterol là lớp chất khá phổ biến trong các loài của chi Tacca đã được nghiên cứu.
Các nghiên cứu thành phần hóa học chủ yếu tập trung nhiều ở 5 loài: T. Taccalonolide và spirostanol saponin được tìm thấy hầu hết ở các loài thuộc chi Tacca. Withanolide và withanolide glycoside tìm thấy ở loài T. plantaginea; furostanol glycoside được phân lập từ 3 loài T.
plantaginea; cholestan glycoside phát hiện có mặt ở loài T. Các hợp chất taccalonolide Theo các công trình đã công bố, có 32 hợp chất taccalonolide (1-32) đã phân lập được từ các loài T. subflabellata (xem Bảng 1. Các hợp chất taccalonolide (1-32) từ chi Tacca KH Tên chất Bộ phận Loài TLTK 1 Taccalonolide A Thân rễ T.
plantaginea [8, 10, 11] 2 Taccalonolide B Thân rễ T. plantaginea [8, 10] 3 Taccalonolide C Thân rễ T. plantaginea [8, 12] 4 Taccalonolide D Thân rễ T. plantaginea [12] 5 Taccalonolide E Thân rễ T.
plantaginea [8, 13] 6 Taccalonolide F Thân rễ T. plantaginea [13] 7 Taccalonolide G Thân rễ T. plantaginea [14] 8 Taccalonolide H Thân rễ T. plantaginea [14] 9 Taccalonolide I Thân rễ T.
plantaginea [14] 10 Taccalonolide J Thân rễ T. plantaginea [14] 11 Taccalonolide K Thân rễ T. plantaginea [8, 14] 12 Taccalonolide L Thân rễ T. plantaginea [8, 15] 13 Taccalonolide M Thân rễ T.
plantaginea [15] 14 Taccalonolide N Thân rễ T. chantrieri [2] 15 Taccalonolide O Thân rễ T. subflabellata [16, 17] 16 Taccalonolide P Thân rễ T. subflabellata [8, 16, 17] 7 KH Tên chất Bộ phận Loài TLTK 17 Taccalonolide Q Thân rễ T.
subflabellata [17] 18 Taccalonolide R Thân rễ T. integrifolia [6, 8] 19 Taccalonolide S Thân rễ T. paxiana [6] 20 Taccalonolide T Thân rễ T. paxiana [6] 21 Taccalonolide U Thân rễ T.
paxiana [6] 22 Taccalonolide V Thân rễ T.