Nghiên cứu thành phần hóa học của thân cây cà phê Robusta tại HCMUTE

Tài liệu nghiên cứu Hcmute nghiên cứu thành phần hóa học thân cây cà phê coffea robusta, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về hóa học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài

2021

97
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MÔ TẢ THỰC VẬT

1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CÂY CÀ PHÊ

1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CÂY CÀ PHÊ

2. HOÁ CHẤT VÀ THIẾT BỊ

2.1. ĐIỀU CHẾ CÁC LOẠI CAO VÀ CÔ LẬP HỢP CHẤT

2.2. THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH ỨC CHẾ α-GLUCOSIDASE

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT HN1

3.2. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT Y01

3.3. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT HN2

3.4. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT KK01

3.5. THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH ỨC CHẾ α-GLUCOSIDASE

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu hóa học cây cà phê Robusta tại HCMUTE Tổng quan

Nghiên cứu này, thực hiện tại HCMUTE, tập trung vào nghiên cứu hóa học thân cây cà phê Robusta, một nguồn tài nguyên chưa được khai thác triệt để. Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê Robusta hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn nghiên cứu tập trung vào hạt. Thân cây cà phê, sau nhiều năm thu hoạch, thường bị bỏ đi. Nghiên cứu này nhằm khám phá thành phần hóa học thân cây cà phê Robusta, tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học, và định hướng ứng dụng thực tiễn. Nghiên cứu khoa học này có ý nghĩa quan trọng trong việc tận dụng tối đa nguồn tài nguyên, giảm thiểu lãng phí, và đóng góp vào nghiên cứu khoa học cà phê tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung kiến thức về hóa học các hợp chất thiên nhiên và có tiềm năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.

1.1 Thành phần hóa học cà phê Robusta

Phần này tập trung vào thành phần hóa học cà phê Robusta, đặc biệt là trong thân cây. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hạt, cho thấy sự hiện diện của các hợp chất như sterol, terpenoid, trigonelline, chlorogenic acid, amide, alkaloid, và glycoside. Tuy nhiên, thành phần hóa học thân cây cà phê Robusta vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nghiên cứu này hướng đến việc xác định các hợp chất trong thân cây cà phê Robusta, bao gồm cả caffeine trong cà phê Robusta, axit trong cà phê Robusta, flavonoid trong cà phê Robusta, và polyphenol trong cà phê Robusta. Việc xác định chính xác các hợp chất này sẽ giúp hiểu rõ hơn về tính chất hóa học cà phê Robusta và tiềm năng ứng dụng của chúng. Phân tích hóa học sẽ sử dụng các phương pháp phân tích hóa học hiện đại để đảm bảo độ chính xác cao. Các kết quả thu được sẽ được so sánh với các nghiên cứu tương tự trên thế giới để đánh giá sự độc đáo và tiềm năng của cà phê Robusta Việt Nam.

1.2 Phương pháp phân tích hóa học và kỹ thuật sử dụng

Phương pháp phân tích hóa học được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm các kỹ thuật hiện đại như phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR (bao gồm cả 1D và 2D NMR như COSY, HSQC, HMBC, NOESY), phổ hồng ngoại FT-IR, và phổ khối lượng HR-ESI-MS. Những kỹ thuật này cho phép xác định chính xác cấu trúc hóa học của các hợp chất được phân lập. Ngoài ra, kỹ thuật sắc ký cột với các chất hấp phụ như silica gel và Sephadex LH-20 được sử dụng để cô lập các hợp chất từ thân cây cà phê Robusta. Kỹ thuật sắc ký lớp mỏng cũng được dùng để theo dõi quá trình tách chiết. Khối lượng trong phân tích cà phê được đo chính xác để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu. Phối hợp các phương pháp này giúp đảm bảo độ tin cậy và đầy đủ của kết quả nghiên cứu. Sự lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đạt được mục tiêu nghiên cứu.

1.3 Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của một số hợp chất triterpene khung oleanane trong thân cây cà phê Robusta, bao gồm coffecanolic acid (HN1), sumaresinolic acid (Y01), oleanolic acid (HN2), và 3-O-acetyloleanolic acid (KK01). Trong đó, coffecanolic acid là một hợp chất mới được phát hiện. Các hợp chất này thể hiện hoạt tính ức chế α-glucosidase, có ý nghĩa trong việc nghiên cứu điều trị bệnh đái tháo đường. Nghiên cứu này cũng đánh giá chất lượng cà phê Robusta dựa trên thành phần hóa học. Ứng dụng hóa học trong nông nghiệp được thể hiện rõ nét qua việc tìm kiếm các hợp chất có giá trị trong thân cây, giúp tận dụng tối đa nguồn lực và tạo ra giá trị gia tăng. Công nghệ chế biến cà phê có thể được cải tiến dựa trên kết quả nghiên cứu này. Kết quả đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, góp phần nâng cao uy tín khoa học của HCMUTEnghiên cứu cà phê tại Việt Nam. Việc phát hiện chất chống oxy hóa trong cà phê Robusta cũng mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 MÔ TẢ THỰC VẬT Cây cà phê thuộc họ Rubiaceae (thiến thảo), chi Coffea. Có bốn loại cà phê được trồng ở Việt Nam: cà phê arabica (cà phê chè), cà phê robusta (cà phê vối), cà phê liberica (cà phê mít) và cà phê stenophylla (cà phê Sierra Leon). Do đặc thù khí hậu và thổ nhưỡng nên Việt Nam chỉ thích hợp trồng cà phê robusta, sản lượng cà phê robusta chiếm gần 95% sản lượng cà phê hàng năm của cả nước.[1] Đặc điểm cây cà phê robusta [1] Cây cà phê robusta có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành 4. Quả cà phê có hình tròn, hạt nhỏ hơn hạt cà phê arabica.

Cây cà phê robusta 3-4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch. Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm. Hệ thống rễ: Cây cà phê robusta có hệ thống rễ lớn được chia làm 4 loại: rễ cọc, rễ trụ, rễ ngang và rễ tơ. Mỗi loại đều đảm nhiệm một vai trò quan trọng.

Rễ cà phê thuộc loại rễ háo khí, bộ rễ ăn sâu, rễ phát triển theo độ dài của tán lá. Thân, tán, lá: Cây cà phê robusta có đường kính thân khá lớn, ở cây trưởng thành đường kính thân khoảng 80-90 cm, có thể cao tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2–4 m. Cây có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval.

Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4–6 cm. Hoa, quả, hạt: Hoa màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng.

Cây trưởng thành có từ 30,000 đến 40,000 bông hoa/cây. Cà phê là loài cây tự thụ phấn. Sau khi thụ phấn, quả sẽ phát triển trong 7 đến 9 tháng và có hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào. Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh.

3 Luan van a) Hoa cà phê b) Thân cây cà phê c) Quả cà phê d) Hạt cà phê Hình 1. 1 Một số bộ phận cây cà phê 1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CÂY CÀ PHÊ Thành phần hóa học phổ biến có trong cây cà phê như: alkaloid, glycoside, flavonoid, terpenoid, protein và amino acid, sterol, lipid, acid hữu cơ. Trigonelline hay N-methylpyridinium 3-carboxylate (2) được tìm thấy trong hạt cà phê. Trong quá trình rang hạt cà phê, trigonelline thay đổi thành hai sản phẩm chính N-methylpyridinium (3) và nicotinic acid (4).

[4] Acid hữu cơ Trong số tất cả các acid hữu cơ trong cà phê, chlorogenic acid (5) có hàm lượng lớn nhất và quan trọng nhất. Chlorogenic acid (5) là một họ các ester có nhiều đồng phân khác nhau được hình thành giữa quinic acid (6) và một số trans-cinnamic acid, 4 Luan van phổ biến nhất là caffeic acid (7), p-coumaric và ferulic acid. Các dẫn xuất chlorogenic acid được tìm thấy trong hạt cà phê robusta với tổng cộng là 69 chất (8-77) [5]. Ngoài ra, trong hạt cà phê còn có một số loại acid hữu cơ khác như acetic acid (78), citric acid (79), formic acid (80), oxalic acid (81), succinic acid (82), malic acid (83),.

Protein và amino acid Protein chiếm 8-12% hạt cà phê xanh khô, phần lớn protein bị phân giải thành các acid amine tự do dưới tác động của nhiệt độ. Trong cà phê robusta, alanine (84) là acid amine có hàm lượng cao nhất, tiếp theo là asparagine (85) [7,8]. Một nghiên cứu cà phê xanh, người ta xác định được hàm lượng amino acid như sau: isoleucine (86) 81 mg/kg, leucine (87) 100 mg/kg, valine (88) 93 mg/kg, tyrosine (89) 81 mg/kg, phenylalanine (90) 133 mg/kg. Hàm lượng của acid gamma- aminobutyric (91) là một chất dẫn truyền thần kinh đã được xác định trong khoảng 143 mg/kg đến 703 mg/kg trong hạt cà phê xanh từ Tanzania [9].

Một nghiên cứu khác trong hạt cà phê xanh xác định amino acid có hàm lượng cao nhất là N-methyl- L-histidine (92), tiếp theo là L-glutamic acid (93), L-proline (94), L-asparagine (95), 4-aminobutyric acid (96) [4]. Lipid Thành phần lipid của cà phê chủ yếu là triacylglycerol (75.2%), ester của diterpene alcohol (18.5%) và chứa một lượng nhỏ lượng ester của steroid (3.4%), dẫn xuất tryptamine (0. Cho đến nay, gần 100 diterpenoid với các cấu trúc khác nhau đã được xác định trong cà phê, hầu hết các diterpene được tìm thấy trong cà phê được bắt nguồn từ khung sườn kaurane (97) thông qua quá trình oxy hóa, ngưng tụ, chuyển vị và các phản ứng xúc tác khác trong cây cà phê, một vài trong số đó có thể được tạo thành trong quá trình rang [10, 11]. Các diterpene được tìm thấy trong cà phê xanh bao gồm cafestol (98), kahweol (99), 16-O-methylcafestol (100), 16-O-methylkahweol (101), dehydrocafestol (102), dehydrocafestol (103), cafestal (104), kahweal (105) [12].

Các sterol như 24-methylenecholesterol (106), Δ5-avenasterol (107), 𝛽- sitosterol (108), 5-hydroxytryptophan (109) [5], 3-β-sitosteryl-1-O-β-D- glucopyranoside (110).[13] Carbohydrate Carbohydrate chiếm khoảng 50% trọng lượng khô của hạt cà phê xanh gồm các cellulose, mannan, arabinogalactan, galactomannan. Hai thành phần phổ biến của arabinogalactan có trong cà phê là galactose (111) và arabinose (112) [14]. Galactomannan (113) được hình thành từ mannose và glactose. Ngoài ra còn có các phân tử đường như sucrose (114), mannitol (115).[15] 5 Luan van 6 Luan van 7 Luan van 8 Luan van 9 Luan van 10 Luan van 11 Luan van 12 Luan van 1.

NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CÂY CÀ PHÊ Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hợp chất alkaloid (caffeine và trigonelline), diterpene (cafestol và kahweol) và một số hợp chất chuyển hóa thứ cấp khác có trong cà phê chống lại các bệnh như oxy hóa, tiểu đường loại 2, ung thư, tổn thương gan, trầm cảm, rối loạn thần kinh và tim mạch,. Hoạt tính chống lại thoái hóa não và hệ thống thần kinh Caffeine là một chất kích thích hệ thần kinh trung ương làm giảm mệt mỏi và buồn ngủ. Nó hoạt động bằng cách ngăn chặn tác dụng của adenosine (một chất dẫn truyền thần kinh cảm thấy mệt mỏi) và làm tăng hoạt động các chất dẫn truyền thần kinh dopamine, norepinephrine trong não và tăng nồng độ adrenaline trong máu [16]. Sự kết hợp này kích thích não bộ và thúc đẩy trạng thái tỉnh táo và tập trung.

Các nhà nghiên cứu đã tiết lộ rằng uống cà phê có thể giúp giảm nguy cơ rối loạn thoái hóa thần kinh. Một số dữ liệu từ các nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra giả thuyết cho rằng caffeine, chlorogenic acid hoặc sự kết hợp của chúng có thể chống lại sự suy giảm nhận thức hoặc các đặc điểm sinh học của bệnh Alzheimer trong hệ thống thần kinh trung ương [17, 18]. Các kết quả thu được các nghiên cứu và điều tra ở nam giới cho thấy rằng tiêu thụ cà phê có thể chống lại nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Theo Ascherio và các cộng sự, mỗi ngày uống 1-3 ly cà phê có thể giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson với rủi ro thấp nhất.

[19] Hoạt tính chống ung thư Một số nghiên cứu của P. Nawrot và cộng sự về đề tài “Ảnh hưởng của caffeine đối với sức khỏe con người” cho thấy cà phê, và đặc biệt là caffeine, có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng và ung thư vú, cũng như ung thư tuyến tiền liệt, buồng trứng, tụy, thận [20, 21]. Theo kinh nghiệm lâm sàng chỉ ra rằng caffeine có khả năng ức chế, chữa tổn thương DNA trong tế bào ung thư, làm tăng giá trị của việc sử dụng hóa trị liệu trong tế bào sarcoma (một loại ung thư bắt đầu trong các mô như xương hoặc cơ) và tế bào khối u nhỏ [22, 23, 24]. Hoạt tính đối với các bệnh về gan Một số nghiên cứu cho thấy tiêu thụ cà phê càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh xơ gan càng thấp.

Tuy vậy, không thể chứng minh rằng cà phê có vai trò ngăn ngừa tổn thương gan. Các mô hình động vật và nghiên cứu nuôi cấy tế bào chỉ ra rằng 13 Luan van cafestol và kahweol có thể hoạt động như các tác nhân ngăn chặn bằng cách điều chỉnh nhiều enzyme có khả năng ngăn ung thư gan. Theo một đánh giá lớn có 18 nghiên cứu trong tổng số 457.922 người tham gia, kết quả cho thấy người uống cà phê một tách mỗi ngày có thể giảm 7% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 [27]. Các thí nghiệm sử dụng trigonelline cho chuột mắc bệnh tiểu đường cho thấy chuột sống lâu hơn và giảm tổn thương nội tạng liên quan đến bệnh tiểu đường [28, 29].

Hoạt tính chống oxy hóa Dihydrocaffeic acid và quinic acid trong cà phê có khả năng chống oxy hóa, ngăn chặn quá trình lão hóa [30]. Hạt cà phê rang thể hiện tính chống oxy hóa cao hơn hạt không rang do polyphenolic tự nhiên chuyển thành hỗn hợp phức tạp của các sản phẩm phản ứng Maillard giữa một đường khử và amino acid trong quá trình rang [31]. Các hoạt tính khác Caffeine có tác dụng giảm cân, ngăn chặn béo phì bằng cách kìm hãm sự thèm ăn và kích thích sinh nhiệt đốt cháy chất béo và tăng quá trình trao đổi chất [32]. Do đó, các sản phẩm giảm cân thương mại thường chứa caffeine.

Trigonelline có thể ức chế sự phát triển của Streptococcus mutans, một loại vi khuẩn có liên quan chặt chẽ với sự phát triển sâu răng ở người [33]. 14 Luan van CHƯƠNG 2. HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ 2. Hóa chất - n-Hexane, chloroform, acetone, ethyl acetate, methanol (CHEMSOL); - Thuốc thử hiện hình vết trên sắc ký lớp mỏng : H2SO4 - vanilin 5%, sấy nóng bảng; - Sắc ký lớp mỏng pha thường: TLC Silica gel 60 F254 và sắc ký cột pha thường: Silica gel 60 (40-63 mm), Merck (Darmstadt, Germany); - Sắc ký cột Sephadex LH-20 (25-100 μm), GE Healthcare Bio-Sciences (AB, Sweden) - p-Nitrophenyl a-D-glucopyranoside và a-Glucosidase (EC 3.20) from Saccharomyces cerevisiae (750 UN) Sigma Chemical Co.

Louis, MO, USA). - Acarbose và Dimethyl sulfoxide, Merck (Darmstadt, Germany). Thiết bị - Cột sắc ký các kích cỡ; Bình triển khai sắc ký lớp mỏng điều chế; Đèn UV; - Cân phân tích (SARTORIOUS BL 210S, Germany); - Tủ sấy (MEMMERT, Germany); - Máy thu hồi dung môi dưới áp suất thấp (YAMATO, Japan); - Bếp cách thủy (MEMMERT, Germany); - Máy đo phổ hồng ngoại (FT-IR 4700 - Jasco, Japan)(a); - Máy cộng hưởng từ hạt nhân (BRUKER AVANCE) với tần số 500 MHz cho phổ 1H-NMR và 125 MHz cho phổ 13C-NMR (Brüker BioSpin, Switzerland)(b); - Máy đo khối phổ HR-ESI-MS (ExionLC UHPLC and X500R QTOF) (AB SCIEX, USA) (c); - Máy đo khối phổ MSQ-PLUS Mass spectrometer (THERMO FISCHER SCIENTIFIC, USA) (c); - Máy DSC dùng để đo nhiệt độ nóng chảy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hóa học thân cây cà phê Robusta tại HCMUTE" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thành phần hóa học của thân cây cà phê Robusta, một trong những loại cà phê phổ biến tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về giá trị dinh dưỡng và tiềm năng ứng dụng của thân cây cà phê trong ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm, mà còn mở ra hướng đi mới cho việc tận dụng nguồn nguyên liệu này một cách hiệu quả hơn. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các hợp chất hóa học có trong thân cây, cũng như những lợi ích mà chúng mang lại cho sức khỏe.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến chất lượng nước và các vấn đề môi trường, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi". Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về ô nhiễm trong ngành cà phê. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo "Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng" để tìm hiểu về các giải pháp cải thiện trong nghiên cứu khoa học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan.