Nghiên cứu đặc điểm hình thái và DNA barcode của loài Macrosolen tricolor tại Hưng Yên và Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm hình thái vi phẫu và dna barcode của loài macrosolen tricolor lecomte dans thu, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về họ Loranthaceae

1.2. Tổng quan về chi Macrosolen

1.2.1. Vị trí phân loại thực vật

1.2.2. Nghiên cứu về chi Macrosolen trên thế giới

1.2.3. Nghiên cứu về chi Macrosolen tại Việt Nam

1.3. Khái quát nghiên cứu về loài Macrosolen tricolor

1.3.1. Phân bố

1.3.2. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

1.3.3. Thành phần hóa học và giá trị sử dụng

1.4. Nghiên cứu DNA barcode

1.4.1. Ứng dụng DNA barcode trong nghiên cứu định danh thực vật

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.2.2. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh

2.2.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm vi phẫu

2.2.5. Phương pháp sinh học phân tử

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Xác định tên khoa học

3.2. Đặc điểm hình thái

3.3. Đặc điểm vi phẫu

3.3.1. Đặc điểm vi phẫu thân và lá

3.3.2. Đặc điểm bột dược liệu

3.4. Xác định loài dựa trên chỉ thị rbcL

3.4.1. Kết quả tách chiết DNA tổng số và khuyếch đại vùng gen rbcL

3.4.2. Kết quả giải trình tự

3.4.3. Kết quả xác định loài dựa trên công cụ BLAST

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

A. DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

B. DANH MỤC BẢNG

C. DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hình thái và DNA barcode của Macrosolen tricolor

Nghiên cứu hình thái và DNA barcode của loài Macrosolen tricolor tại Hưng Yên và Hà Nội là một bước tiến quan trọng trong việc phân loại và nhận diện thực vật. Loài này thuộc họ Loranthaceae, nổi bật với đặc điểm hình thái độc đáo và giá trị dược liệu cao. Việc nghiên cứu không chỉ giúp xác định chính xác loài mà còn góp phần bảo tồn biodiversity và phát triển các ứng dụng y học từ thực vật.

1.1. Đặc điểm hình thái của loài Macrosolen tricolor

Loài Macrosolen tricolor có hình thái đặc trưng với cây bụi cao khoảng 0,5m, cành màu xám và lá hình trứng ngược. Đặc điểm này giúp phân biệt loài với các loài khác trong họ Tầm gửi.

1.2. Tầm quan trọng của DNA barcode trong nghiên cứu thực vật

Phương pháp DNA barcode giúp xác định chính xác loài thực vật thông qua phân tích gen. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc phân loại các loài có hình thái tương đồng nhưng khác nhau về gen.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu Macrosolen tricolor

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về Macrosolen tricolor, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc phân loại và nhận diện loài. Các loài trong họ Loranthaceae thường có hình thái tương đồng, gây khó khăn trong việc xác định chính xác. Hơn nữa, việc thu thập mẫu vật từ các địa điểm khác nhau cũng gặp nhiều khó khăn do điều kiện môi trường và sự phân bố không đồng đều.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập mẫu vật

Việc thu thập mẫu vật từ Hưng Yên và Hà Nội gặp khó khăn do điều kiện khí hậu và địa hình. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng mẫu thu thập.

2.2. Sự tương đồng giữa các loài trong họ Loranthaceae

Nhiều loài trong họ Loranthaceae có hình thái tương tự nhau, gây khó khăn trong việc phân loại. Điều này đòi hỏi các phương pháp phân tích gen để xác định chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu hình thái và DNA barcode của Macrosolen tricolor

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hiện đại để phân tích hình thái và DNA barcode của Macrosolen tricolor. Các mẫu vật được thu thập từ Hưng Yên và Hà Nội, sau đó tiến hành phân tích hình thái và gen để xác định đặc điểm riêng biệt của loài. Phương pháp này không chỉ giúp nhận diện loài mà còn cung cấp dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.

3.1. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật

Mẫu vật được thu thập từ các địa điểm khác nhau và xử lý theo quy trình chuẩn để đảm bảo độ chính xác trong phân tích. Việc này bao gồm cả việc bảo quản mẫu và chuẩn bị cho các bước phân tích tiếp theo.

3.2. Phân tích hình thái và vi phẫu

Phân tích hình thái và vi phẫu giúp xác định các đặc điểm cấu trúc của loài. Các thông số như kích thước lá, hình dạng hoa được ghi nhận chi tiết để phục vụ cho việc phân loại.

3.3. Phân tích DNA barcode

Phân tích DNA barcode được thực hiện để xác định trình tự gen rbcL. Kết quả giúp so sánh với các mẫu đã công bố trên Genbank, từ đó xác định chính xác loài.

IV. Kết quả nghiên cứu hình thái và DNA barcode của Macrosolen tricolor

Kết quả nghiên cứu cho thấy Macrosolen tricolor có những đặc điểm hình thái rõ ràng và DNA barcode xác định chính xác loài. Các mẫu vật thu thập từ Hưng Yên và Hà Nội đều cho kết quả tương đồng với các mẫu đã công bố trước đó. Điều này khẳng định tính chính xác của phương pháp nghiên cứu và giá trị của loài trong y học cổ truyền.

4.1. Đặc điểm hình thái và vi phẫu

Các đặc điểm hình thái như kích thước lá, hình dạng hoa được ghi nhận rõ ràng. Vi phẫu cho thấy cấu trúc tế bào đặc trưng của loài, giúp phân biệt với các loài khác.

4.2. Kết quả phân tích DNA barcode

Kết quả phân tích DNA barcode cho thấy trình tự gen rbcL của Macrosolen tricolor tương đồng với các mẫu đã công bố, khẳng định tính chính xác trong phân loại.

V. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu Macrosolen tricolor

Nghiên cứu về Macrosolen tricolor không chỉ có giá trị trong việc phân loại mà còn mở ra nhiều ứng dụng trong y học. Loài này được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền để chữa trị nhiều bệnh lý. Việc xác định chính xác loài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo tồn nguồn dược liệu quý giá này.

5.1. Giá trị dược liệu của Macrosolen tricolor

Loài Macrosolen tricolor được sử dụng trong y học cổ truyền để chữa trị các bệnh như gãy xương, tiêu chảy. Nghiên cứu cho thấy loài này có tiềm năng lớn trong việc phát triển thành thuốc.

5.2. Bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu

Việc nghiên cứu và xác định chính xác loài giúp bảo tồn nguồn dược liệu quý giá. Điều này không chỉ có lợi cho y học mà còn cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu Macrosolen tricolor

Nghiên cứu hình thái và DNA barcode của Macrosolen tricolor tại Hưng Yên và Hà Nội đã đạt được những kết quả khả quan. Việc xác định chính xác loài và các đặc điểm hình thái mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về loài này để khai thác tối đa giá trị dược liệu và bảo tồn nguồn gen.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc khai thác các hợp chất có hoạt tính sinh học từ Macrosolen tricolor. Điều này sẽ giúp phát triển các sản phẩm dược phẩm mới.

6.2. Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa Macrosolen tricolor và các loài khác trong họ Loranthaceae. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn về sự đa dạng sinh học và giá trị sử dụng của loài.

14/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Với vị trí nằm ở đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ sinh thái phong phú, thiên nhiên Việt Nam sở hữu lượng tài nguyên động thực vật hết sức đồ sộ, bao gồm nhóm tài nguyên cây thuốc – một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái và đóng góp lớn vào công cuộc bảo vệ sức khỏe con người. Gần 6000 loài thực vật đã được sử dụng làm thuốc dưới nhiều dạng như bài thuốc dân gian, thang thuốc y dược học cổ truyền, hay bào chế thành các sản phẩm hiện đại, nghiên cứu chiết xuất hoạt chất, … Nghiên cứu, phân tích về các loài đã được dùng trong dân gian hay những loài chưa được hiểu biết đầy đủ có thể là phương thuốc mới để chữa bệnh, phòng chống bệnh. Họ Tầm gửi (Loranthaceae) bao gồm phần lớn các cây chủ yếu sống ký sinh, dân gian cũng hay gọi chung các giống ký sinh trên cây khác là cây Tầm gửi mà hiếm khi phân định loài. Tuy vậy, các loài Tầm gửi khác nhau với những đặc điểm khác nhau từ hình thái cho đến hoạt chất chứa bên trong chúng, và điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đóng góp của chúng trên phương diện y dược học.

Cùng một loài Tầm gửi nhưng ký sinh trên các loài khác nhau cũng có thể tạo nên sự khác biệt về hoạt chất trong cây. Trong số các loại Tầm gửi, Tang ký sinh là vị thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh cơ xương khớp. Dược điển Việt Nam V (2017) quy định dược liệu Tang ký sinh được lấy từ loài Scurrula parasitica L. ký sinh trên cây Dâu (Morus alba L.

Tuy nhiên thực tế người dân vẫn thu hái lẫn một số loài Tầm gửi khác trên cây Dâu làm dược liệu Tang ký sinh trong đó có loài Đại cán ba màu - Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans. Loài Đại cán ba màu cũng được ghi chép trong y học dân gian với tác dụng bó vùng gãy xương, trị một số bệnh tiêu hóa. Các nghiên cứu thêm về loài này nhận thấy tác dụng chống viêm, bảo vệ gan, hay phát hiện hợp chất mới cho thấy tiềm năng của Đại cán ba màu để phát triển làm thuốc. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vi phẫu và DNA barcode của loài Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.

thu thập tại Hưng Yên và Hà Nội nhằm xây dựng bộ dữ liệu về đặc điểm hình thái, vi phẫu và DNA barcode giúp nhận dạng và phân biệt loài. Góp phần xác 1 định tính đúng của dược liệu làm thuốc phục vụ công tác kiểm nghiệm dược liệu. loài đóng góp thêm vào dữ liệu là vô cùng quan trọng cho những hoạt động nghiên cứu kế tiếp tiến hành trên loài này. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau: - Nghiên cứu và xác định được đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu của loài Đại cán ba màu (Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.

- Xác định được DNA barcode của loài Đại cán ba màu (Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.) được thu thập ở 2 địa điểm là Hưng Yên và Hà Nội và so sánh với trình tự đã công bố trên Genbank. Tổng quan về họ Loranthaceae Họ Tầm gửi (Loranthaceae) gồm khoảng hơn 70 chi, gần 1000 loài phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong họ chủ yếu là bán ký sinh trên các cây thân gỗ [1]. Jussier [2] là người đầu tiên mô tả và đặt tên cho họ Tầm gửi lấy từ tên chi Loranthus – là một trong hai chi (Loranthus và Scurrula) được nhà thực vật học nổi tiếng người Thụy Điển C.

Linnaeus mô tả trong công trình nghiên cứu “Species Plantarum”[3]. Mặc dù theo phân loại học trước đây đã từng coi Viscaceae (họ Ghi) như là một phân họ của Loranthaceae (họ Tầm gửi), nhưng với sự phát triển của công nghệ sinh học thì các bằng chứng cho thấy hai họ này là khác biệt có về đặc điểm phôi học [4], tế bào học [5] và địa sinh học [6]. Rất nhiều các công trình nghiên cứu đã phân tích phát sinh chủng loại dựa trên dữ liệu về sinh học phân tử đã tiến hành cho tới nay đều đồng ý với quan điểm tách Loranthaceae thành một họ thực vật độc lập. Từ hệ thống Angiosperm Phylogeny Group I trở đi [7-10] đều chỉ ra rằng họ Loranthaceae có vị trí độc lập với Viscaceae.

Đến năm 2004, Qiu Huaxing và Michael G. Gilbert nằm trong “Flora of China” đã ghi nhận họ Tầm gửi với 8 chi và 48 loài [11]. Nickrent kế thừa hệ thống của Engler và hoàn thiện cây phát sinh chủng loài khi nghiên cứu trên nhiều gen (rbcL, matK, trnL-F), nhóm tác giả cũng sử dụng thuật toán Bayes với phương pháp parsimony có độ tin cậy cao. Trong công trình nghiên cứu, 69 chi trên tổng số 73 chi thuộc họ Tầm gửi được phân tích trên 3 loại gen, kết quả cho thấy: chi Scurrula có mối quan hệ rất gần với Taxillus và chi Macrosolen có mối quan hệ gần gũi với chi Elytranthe.

Ngoài ra, các tác giả đã chỉ ra các nhóm có số lượng nhiễm sắc thể n = 12 gồm các chi thuộc tông Elytrantheae (trong đó có 2 chi gặp ở Việt Nam: Elytranthe và Macrosolen), số lượng nhiễm sắc thể n = 9 gồm các chi thuộc tông Lorantheae (ở Việt Nam có 4 chi: Dendrophthoe, Helixanthera, Scurrula và Taxillus). Như vậy, công trình phân loại các taxon trong họ Tầm gửi (Loranthaceae) của R. Nickrent (2008) là một công trình đồ sộ, tập hợp nhiều phương pháp và bao quát các chi trên toàn thế giới, trong đó có kết hợp các đặc điểm hình thái và dẫn liệu sinh học phân tử để xây dựng 3 cây phát sinh chủng loại mang tính tin cậy cao. Tuy còn một số điểm mới chưa hoàn thiện về vị trí của một số chi nhưng đây là công trình hoàn thiện nhất và mới nhất từ trước đến nay về họ Tầm gửi.

Ở Việt Nam cho đến nay đã ghi nhận họ này có 6 chi: Dendrophthoe, Elytranthe, Helixanthera, Macrosolen, Scurrula, Taxillus với hơn 30 loài, nhiều loài sử dụng làm thuốc. Nguyễn Tiến Bân (1994) [12] trong Tạp chí Sinh học số 16 đã đưa ra danh sách họ Tầm gửi gồm 2 phân họ Loranthoideae và Viscoideae với 8 chi và 43 loài, 1 thứ. Năm 2003, tác giả đã coi Loranthoideae và Viscoideae là 2 họ độc lập [13] với tên là Loranthaceae và Viscaceae; khi đó họ Tầm gửi còn 5 chi, 33 loài và 1 thứ. Tuy nhiên trong 2 công trình trên, tác giả chỉ đề cập đến tên synonym, sinh học – sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng nếu có.

Theo Nguyễn Tiến Bân, Scurrula là synonym của Taxillus dựa vào các đặc điểm hình thái chung như: hoa mẫu 4, đối xứng hai bên, cánh hoa dính phần lớn tạo thành ống hoa, phần lớn chiều dài của nhị đính vào bao hoa, số lượng hoa trong cụm hoa ít, cuống chung của cụm hoa ít phát triển. Năm 2014, Lê Ngọc Hân [14] đã xác nhận rằng họ Loranthaceae ở Việt Nam được xác định có 29 loài và 1 thứ xếp trong 1 phân họ 2 tông, 2 phân tông, 6 chi. Tổng quan về chi Macrosolen 1. Vị trí phân loại thực vật Theo hệ thống phân loại mới nhất APG IV (Angiosperm Phylogeny Group) [8] dựa trên các dẫn liệu về hình thái và sinh học phân tử, chi Macrosolen có vị trí phân loại như sau: Giới: Plantae (Thực vật) Ngành: Angiosperms (Thực vật hạt kín) Bộ: Santalales (Đàn hương)    Họ: Loranthaceae (Tầm gửi)     Chi: Macrosolen (Đại cán) 4 1.

Nghiên cứu về chi Macrosolen trên thế giới Lần đầu tiên vào năm 1830, Blume đề cập đến Macrosolen trong cuốn “Flora Javae nec non insularum adjacentium” [15] như là 1 nhánh của chi Loranthus (họ Loranthaceae) gồm 13 loài được lấy tên lần lượt là: L. clavatus với đặc điểm chung trên cơ quan sinh sản: hoa lưỡng tính, lá bắc 3 rời rạc hoặc liền nhau, cánh hoa hợp thành ống, hoa mọc thành chùm hoặc xim, hiếm khi đơn lẻ, có nhiều sắc màu … Năm 1841, Reichenbach đã tách Macrosolen thành một chi riêng biệt, ghi chép đặc điểm, minh họa chi tiết các loài thuộc chi một cách hệ thống trong tài liệu “Deut. Tên hữu hiệu của chi được chính thức ghi nhận là Macrosolen (Blume) Rchb. và sử dụng đến ngày nay.

Các mô tả về chi không có thay đổi so với nhận định trước đó của Blume. Miquel [17] cũng đồng quan điểm cho rằng Macrosolen là một chi thuộc họ Loranthaceae và gọi tên, miêu tả chi tiết 14 loài thuộc chi này. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác như Betham, Hooker [18,19] vẫn có cùng quan điểm với nhận định đầu tiên của Blume coi Macrosolen là 1 bộ phận của chi Loranthus, hay Engler cho rằng nó là nó là nhánh của chi Elytranthe [20]. Năm 1894, Van Tieghem đưa ra hệ thống phân loại thực vật dựa trên đặc điểm hình thái trong Sur La Classification Des Loranthacées [21].

Trong hệ thống này, Macrosolen là một trong ba chi thuộc tông Elytranthe. Tuy nhiên, hệ thống của Van Tieghem sớm thay đổi sau một năm [22] và chia nhỏ tông Elytranthe bao gồm 18 chi thay vì 3 chi như ban đầu. Các loài vốn thuộc chi Macrosolen trước đó chia vào hai chi theo hệ thống mới là Macrosolen và Miquelina. Năm 1900, Engler nhận thấy sự khác biệt rõ ràng về hình thái ở đài hoa, lá bắc nên quyết định khôi phục lại chi Macrosolen và Enelytranthe [23].

Các tài liệu sau năm 1900 như Bulletin du Jardin Botanique de Buitenzorg [24], , The Gardens’ bulletin Singapore [25], Vân Nam thực vật chí [26]… đều công nhận chi Macrosolen nằm trong họ Loranthaceae. Hệ thống phân loại APG IV (2016) [8] đã xếp Macrosolen là một chi thuộc họ Loranthaceae. Hiện nay, chính thức ghi nhận 42 loài thuộc chi Macrosolen theo Plant of the World 5 Online [27]. Các mẫu vật của các loài thuộc chi đã thu thập hiện tại tập trung ở Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ.

Nghiên cứu về chi Macrosolen tại Việt Nam Tài liệu Cây cỏ Việt Nam vào năm 2000 [28] đã liệt kê 8 loài thuộc chi Macrosolen bao gồm Macrosolen annamicus, Macrosolen adpressus, Macrosolen avenis, Macrosolen bibracteolatus, Macrosolen cochinchinensis, Macrosolen dianthus, Macrosolen robinsonii, Macrosolen tricolor. Tác giả Phạm Hoàng Hộ dựa trên những đặc điểm hình thái: cây có lá, hoa lưỡng tính, cánh hoa dính liền thành ống, hoa 6 phần, lá bắc nhỏ không bao lấy đài để phân biệt nhận dạng các loài thuộc chi này. Tuy nhiên, loài Macrosolen adpressus trong tài liệu này không có tranh minh họa hay mô tả nào, các tài liệu nghiên cứu về sau cũng không đề cập đến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hình thái và DNA barcode của loài Macrosolen tricolor tại Hưng Yên và Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm hình thái và phân loại gen của loài cây này. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các đặc điểm sinh học quan trọng mà còn ứng dụng công nghệ DNA barcode để phân loại chính xác, từ đó hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển bền vững các loài thực vật quý hiếm.

Đối với những ai quan tâm đến nghiên cứu thực vật học, tài liệu này mở ra cơ hội tìm hiểu thêm về các loài cây khác trong khu vực. Bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài cây trai garcinia fragraeoides tại khu bảo tồn na hang tuyên quang, nơi khám phá các đặc điểm lâm học của một loài cây khác trong hệ sinh thái. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm thực vật học và gen phân loại cây bách bộ stemona tuberosa lour tại việt nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về phân loại thực vật, giúp bạn mở rộng kiến thức về các loài cây bản địa. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài bảy lá một hoa paris polyphylla sm tại vqg ba bể tỉnh bắc kạn sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về một loài cây khác có giá trị bảo tồn cao. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn khuyến khích bạn khám phá thêm về sự đa dạng sinh học của Việt Nam.