ĐẶT VẤN ĐỀ Với vị trí nằm ở đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ sinh thái phong phú, thiên nhiên Việt Nam sở hữu lượng tài nguyên động thực vật hết sức đồ sộ, bao gồm nhóm tài nguyên cây thuốc – một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái và đóng góp lớn vào công cuộc bảo vệ sức khỏe con người. Gần 6000 loài thực vật đã được sử dụng làm thuốc dưới nhiều dạng như bài thuốc dân gian, thang thuốc y dược học cổ truyền, hay bào chế thành các sản phẩm hiện đại, nghiên cứu chiết xuất hoạt chất, … Nghiên cứu, phân tích về các loài đã được dùng trong dân gian hay những loài chưa được hiểu biết đầy đủ có thể là phương thuốc mới để chữa bệnh, phòng chống bệnh. Họ Tầm gửi (Loranthaceae) bao gồm phần lớn các cây chủ yếu sống ký sinh, dân gian cũng hay gọi chung các giống ký sinh trên cây khác là cây Tầm gửi mà hiếm khi phân định loài. Tuy vậy, các loài Tầm gửi khác nhau với những đặc điểm khác nhau từ hình thái cho đến hoạt chất chứa bên trong chúng, và điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đóng góp của chúng trên phương diện y dược học.
Cùng một loài Tầm gửi nhưng ký sinh trên các loài khác nhau cũng có thể tạo nên sự khác biệt về hoạt chất trong cây. Trong số các loại Tầm gửi, Tang ký sinh là vị thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh cơ xương khớp. Dược điển Việt Nam V (2017) quy định dược liệu Tang ký sinh được lấy từ loài Scurrula parasitica L. ký sinh trên cây Dâu (Morus alba L.
Tuy nhiên thực tế người dân vẫn thu hái lẫn một số loài Tầm gửi khác trên cây Dâu làm dược liệu Tang ký sinh trong đó có loài Đại cán ba màu - Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans. Loài Đại cán ba màu cũng được ghi chép trong y học dân gian với tác dụng bó vùng gãy xương, trị một số bệnh tiêu hóa. Các nghiên cứu thêm về loài này nhận thấy tác dụng chống viêm, bảo vệ gan, hay phát hiện hợp chất mới cho thấy tiềm năng của Đại cán ba màu để phát triển làm thuốc. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vi phẫu và DNA barcode của loài Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.
thu thập tại Hưng Yên và Hà Nội nhằm xây dựng bộ dữ liệu về đặc điểm hình thái, vi phẫu và DNA barcode giúp nhận dạng và phân biệt loài. Góp phần xác 1 định tính đúng của dược liệu làm thuốc phục vụ công tác kiểm nghiệm dược liệu. loài đóng góp thêm vào dữ liệu là vô cùng quan trọng cho những hoạt động nghiên cứu kế tiếp tiến hành trên loài này. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau: - Nghiên cứu và xác định được đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu của loài Đại cán ba màu (Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.
- Xác định được DNA barcode của loài Đại cán ba màu (Macrosolen tricolor (Lecomte) Dans.) được thu thập ở 2 địa điểm là Hưng Yên và Hà Nội và so sánh với trình tự đã công bố trên Genbank. Tổng quan về họ Loranthaceae Họ Tầm gửi (Loranthaceae) gồm khoảng hơn 70 chi, gần 1000 loài phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong họ chủ yếu là bán ký sinh trên các cây thân gỗ [1]. Jussier [2] là người đầu tiên mô tả và đặt tên cho họ Tầm gửi lấy từ tên chi Loranthus – là một trong hai chi (Loranthus và Scurrula) được nhà thực vật học nổi tiếng người Thụy Điển C.
Linnaeus mô tả trong công trình nghiên cứu “Species Plantarum”[3]. Mặc dù theo phân loại học trước đây đã từng coi Viscaceae (họ Ghi) như là một phân họ của Loranthaceae (họ Tầm gửi), nhưng với sự phát triển của công nghệ sinh học thì các bằng chứng cho thấy hai họ này là khác biệt có về đặc điểm phôi học [4], tế bào học [5] và địa sinh học [6]. Rất nhiều các công trình nghiên cứu đã phân tích phát sinh chủng loại dựa trên dữ liệu về sinh học phân tử đã tiến hành cho tới nay đều đồng ý với quan điểm tách Loranthaceae thành một họ thực vật độc lập. Từ hệ thống Angiosperm Phylogeny Group I trở đi [7-10] đều chỉ ra rằng họ Loranthaceae có vị trí độc lập với Viscaceae.
Đến năm 2004, Qiu Huaxing và Michael G. Gilbert nằm trong “Flora of China” đã ghi nhận họ Tầm gửi với 8 chi và 48 loài [11]. Nickrent kế thừa hệ thống của Engler và hoàn thiện cây phát sinh chủng loài khi nghiên cứu trên nhiều gen (rbcL, matK, trnL-F), nhóm tác giả cũng sử dụng thuật toán Bayes với phương pháp parsimony có độ tin cậy cao. Trong công trình nghiên cứu, 69 chi trên tổng số 73 chi thuộc họ Tầm gửi được phân tích trên 3 loại gen, kết quả cho thấy: chi Scurrula có mối quan hệ rất gần với Taxillus và chi Macrosolen có mối quan hệ gần gũi với chi Elytranthe.
Ngoài ra, các tác giả đã chỉ ra các nhóm có số lượng nhiễm sắc thể n = 12 gồm các chi thuộc tông Elytrantheae (trong đó có 2 chi gặp ở Việt Nam: Elytranthe và Macrosolen), số lượng nhiễm sắc thể n = 9 gồm các chi thuộc tông Lorantheae (ở Việt Nam có 4 chi: Dendrophthoe, Helixanthera, Scurrula và Taxillus). Như vậy, công trình phân loại các taxon trong họ Tầm gửi (Loranthaceae) của R. Nickrent (2008) là một công trình đồ sộ, tập hợp nhiều phương pháp và bao quát các chi trên toàn thế giới, trong đó có kết hợp các đặc điểm hình thái và dẫn liệu sinh học phân tử để xây dựng 3 cây phát sinh chủng loại mang tính tin cậy cao. Tuy còn một số điểm mới chưa hoàn thiện về vị trí của một số chi nhưng đây là công trình hoàn thiện nhất và mới nhất từ trước đến nay về họ Tầm gửi.
Ở Việt Nam cho đến nay đã ghi nhận họ này có 6 chi: Dendrophthoe, Elytranthe, Helixanthera, Macrosolen, Scurrula, Taxillus với hơn 30 loài, nhiều loài sử dụng làm thuốc. Nguyễn Tiến Bân (1994) [12] trong Tạp chí Sinh học số 16 đã đưa ra danh sách họ Tầm gửi gồm 2 phân họ Loranthoideae và Viscoideae với 8 chi và 43 loài, 1 thứ. Năm 2003, tác giả đã coi Loranthoideae và Viscoideae là 2 họ độc lập [13] với tên là Loranthaceae và Viscaceae; khi đó họ Tầm gửi còn 5 chi, 33 loài và 1 thứ. Tuy nhiên trong 2 công trình trên, tác giả chỉ đề cập đến tên synonym, sinh học – sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng nếu có.
Theo Nguyễn Tiến Bân, Scurrula là synonym của Taxillus dựa vào các đặc điểm hình thái chung như: hoa mẫu 4, đối xứng hai bên, cánh hoa dính phần lớn tạo thành ống hoa, phần lớn chiều dài của nhị đính vào bao hoa, số lượng hoa trong cụm hoa ít, cuống chung của cụm hoa ít phát triển. Năm 2014, Lê Ngọc Hân [14] đã xác nhận rằng họ Loranthaceae ở Việt Nam được xác định có 29 loài và 1 thứ xếp trong 1 phân họ 2 tông, 2 phân tông, 6 chi. Tổng quan về chi Macrosolen 1. Vị trí phân loại thực vật Theo hệ thống phân loại mới nhất APG IV (Angiosperm Phylogeny Group) [8] dựa trên các dẫn liệu về hình thái và sinh học phân tử, chi Macrosolen có vị trí phân loại như sau: Giới: Plantae (Thực vật) Ngành: Angiosperms (Thực vật hạt kín) Bộ: Santalales (Đàn hương) Họ: Loranthaceae (Tầm gửi) Chi: Macrosolen (Đại cán) 4 1.
Nghiên cứu về chi Macrosolen trên thế giới Lần đầu tiên vào năm 1830, Blume đề cập đến Macrosolen trong cuốn “Flora Javae nec non insularum adjacentium” [15] như là 1 nhánh của chi Loranthus (họ Loranthaceae) gồm 13 loài được lấy tên lần lượt là: L. clavatus với đặc điểm chung trên cơ quan sinh sản: hoa lưỡng tính, lá bắc 3 rời rạc hoặc liền nhau, cánh hoa hợp thành ống, hoa mọc thành chùm hoặc xim, hiếm khi đơn lẻ, có nhiều sắc màu … Năm 1841, Reichenbach đã tách Macrosolen thành một chi riêng biệt, ghi chép đặc điểm, minh họa chi tiết các loài thuộc chi một cách hệ thống trong tài liệu “Deut. Tên hữu hiệu của chi được chính thức ghi nhận là Macrosolen (Blume) Rchb. và sử dụng đến ngày nay.
Các mô tả về chi không có thay đổi so với nhận định trước đó của Blume. Miquel [17] cũng đồng quan điểm cho rằng Macrosolen là một chi thuộc họ Loranthaceae và gọi tên, miêu tả chi tiết 14 loài thuộc chi này. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác như Betham, Hooker [18,19] vẫn có cùng quan điểm với nhận định đầu tiên của Blume coi Macrosolen là 1 bộ phận của chi Loranthus, hay Engler cho rằng nó là nó là nhánh của chi Elytranthe [20]. Năm 1894, Van Tieghem đưa ra hệ thống phân loại thực vật dựa trên đặc điểm hình thái trong Sur La Classification Des Loranthacées [21].
Trong hệ thống này, Macrosolen là một trong ba chi thuộc tông Elytranthe. Tuy nhiên, hệ thống của Van Tieghem sớm thay đổi sau một năm [22] và chia nhỏ tông Elytranthe bao gồm 18 chi thay vì 3 chi như ban đầu. Các loài vốn thuộc chi Macrosolen trước đó chia vào hai chi theo hệ thống mới là Macrosolen và Miquelina. Năm 1900, Engler nhận thấy sự khác biệt rõ ràng về hình thái ở đài hoa, lá bắc nên quyết định khôi phục lại chi Macrosolen và Enelytranthe [23].
Các tài liệu sau năm 1900 như Bulletin du Jardin Botanique de Buitenzorg [24], , The Gardens’ bulletin Singapore [25], Vân Nam thực vật chí [26]… đều công nhận chi Macrosolen nằm trong họ Loranthaceae. Hệ thống phân loại APG IV (2016) [8] đã xếp Macrosolen là một chi thuộc họ Loranthaceae. Hiện nay, chính thức ghi nhận 42 loài thuộc chi Macrosolen theo Plant of the World 5 Online [27]. Các mẫu vật của các loài thuộc chi đã thu thập hiện tại tập trung ở Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ.
Nghiên cứu về chi Macrosolen tại Việt Nam Tài liệu Cây cỏ Việt Nam vào năm 2000 [28] đã liệt kê 8 loài thuộc chi Macrosolen bao gồm Macrosolen annamicus, Macrosolen adpressus, Macrosolen avenis, Macrosolen bibracteolatus, Macrosolen cochinchinensis, Macrosolen dianthus, Macrosolen robinsonii, Macrosolen tricolor. Tác giả Phạm Hoàng Hộ dựa trên những đặc điểm hình thái: cây có lá, hoa lưỡng tính, cánh hoa dính liền thành ống, hoa 6 phần, lá bắc nhỏ không bao lấy đài để phân biệt nhận dạng các loài thuộc chi này. Tuy nhiên, loài Macrosolen adpressus trong tài liệu này không có tranh minh họa hay mô tả nào, các tài liệu nghiên cứu về sau cũng không đề cập đến.