Chương 1: Khái lược về biểu tượng và hành trình sáng tác thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 Chương 2: Các loại hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 1. Khái lƣợc về biểu tƣợng 1. Một số quan niệm về biểu tượng Từ thời cổ Hy Lạp với logic học của Aristot, thuật ngữ “Biểu tượng” đã xuất hiện. Đến cuối thế kỉ XVIII, thuật ngữ này xuất hiện nhiều trong các công trình tâm lý học, sinh lí học, logic học… nhưng được dùng với ý nghĩa không nhất quán và ngày càng trở nên phức tạp.
Do đó, cần phải tìm hiểu quan niệm về biểu tượng của từng ngành khoa học khác nhau trước khi đi vào phạm vi nghiên cứu chủ yếu là biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca. Biểu tượng dưới góc độ triết học Theo từ điển triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giác quan” [42, tr. Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong đầu óc con người. Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình.
Vì thế, mỗi người sẽ có thế giới biểu tượng của riêng mình. Thế giới biểu tượng ấy có phong phú hay không còn tùy thuộc vào môi trường sống, năng lực hoạt động cá nhân trong việc chiếm lĩnh, thâm nhập vào thế giới xung quanh. Và như vậy, trong chúng ta ẩn chứa một kho biểu tượng vô tận mà nói như Guy Schoeler: “sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [2, tr. Biểu tượng dưới góc độ tâm lí Theo Từ điển Tiếng Việt: “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lí do một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức” [33, tr.
Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lí, biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có những sự vật, sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan của con người và nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt ở thể loại thơ ca. Biểu tượng dưới góc độ văn hóa Mỗi một nền văn hóa được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng. Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều tác giả cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…”.
Với cách hiểu như vậy, biểu tượng chính là một trong những cơ sở để xác định đặc trưng của một nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa với nhau. Ngoài những đặc điểm trên, ta thấy mỗi nền văn hóa khác nhau thì hệ thống biểu tượng cũng khác nhau, do đó biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa còn mang tính ổn định tương đối. Như ta đã biết, cấp độ đầu tiên của biểu tượng là “mẫu gốc”. Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau như trong các thần thoại, truyền 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuyết, lễ nghi, phong tục tập quán.
Vì vậy, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa luôn mang đậm hơi thở của dân tộc, của thời đại. Biểu tượng dưới góc độ ngôn ngữ Theo các nhà ngôn ngữ học thì “Biểu tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng chung” [Theo S.Pocxo - Dẫn theo Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam].Saussure cho rằng: “Biểu tượng không hoàn toàn võ đoán, nó không phải cái trống rỗng”, đồng thời ông cũng thừa nhận biểu tượng thuộc vào năng lực cá nhân nhưng luôn luôn chứa đựng một nội dung nhất định được khái quát và chưng cất từ thực tiễn. Do vậy, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng. Biểu tượng dưới góc độ văn học Nhìn từ góc độ văn học, có rất nhiều cách hiểu về biểu tượng, tựu chung lại có những cách hiểu cơ bản sau: Văn học là nghệ thuật ngôn từ mà đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ là phản ánh hiện thực đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người thông qua hình tượng nghệ thuật.
Muốn làm được như vậy, nhà văn phải mã hóa ngôn từ, tạo ra một hình thức “lạ hóa” nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật có giá trị. Những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật này ra đời có sức sống sẽ vượt lên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa trong văn học. Quan niệm này đề cập đến vấn đề biểu tượng gắn với những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, ở đây chúng ta cũng cần chú ý đến tính đa nghĩa của biểu tượng trong văn học 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vì đối lập với tư duy suy lý đơn nghĩa thì tính đa nghĩa là một đặc trưng của tư duy nghệ thuật, nó phản ánh những mối quan hệ phong phú và sinh động của văn học và hiện thực.
Các nhà nghiên cứu lý luận văn học cho rằng: Biểu tượng là “phương tiện tạo hình và biểu đạt” có tính đa nghĩa trong tác phẩm văn học. Trong lĩnh vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện biểu đạt có hiệu quả.Bakhin đã coi biểu tượng là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất của tác phẩm trữ tình với tiểu thuyết : “Chính sự vận động của biểu tượng thơ ca sẽ giả định phải có một ngôn ngữ thống nhất, tương hợp trực tiếp với đối tượng của mình” [22, tr. Như vậy, trong văn học dù được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò, giá trị khái quát và tượng trưng của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm văn học. Đặc trưng của biểu tượng Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng.
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu của TS. Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án tiến sĩ Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm Biểu tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu trưng) [15, tr. Căn cứ vào khái niệm, chúng ta có thể xác định được một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng, cụ thể như sau: Thứ nhất, mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng của biểu tượng “mang tính có lí do, tính tất yếu”. Chẳng hạn “dòng sông” là một 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu tượng thuộc hệ biểu tượng nước trong văn hóa nhân loại bởi những đặc điểm bản thể mang tính vật chất của thực thể này như nguồn nước, dòng chảy liên tục…và các ý nghĩa mà con người có thể liên tưởng từ thực thể thiên nhiên này như dòng chảy của thời gian, dòng chảy của cuộc đời, nguồn sống, nguồn chết, sức mạnh thanh tẩy, khả năng tái sinh…có một mối quan hệ nội tại, tất yếu.
Như vậy, ở biểu tượng, giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn tồn tại mối quan hệ về bản chất. Chính mối quan hệ mang tính có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng là điểm chủ yếu để phân biệt biểu tượng với các tín hiệu quy ước thuần túy đúng như J.Chevaillier đã chỉ ra rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [2, tr. Thứ hai, khác với các dấu hiệu, kí hiệu thông thường luôn mang tính đơn trị thì biểu tượng lại luôn mang tính đa trị bởi trong mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng, cái được biểu trưng “không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này” [2, tr. Nếu như các kí hiệu, dấu hiệu thông thường, tỉ lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là 1:1(một cái biểu đạt, một cái được biểu đạt) thì dung lượng giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng trong biểu tượng không phải là tỉ lệ 1:1,“chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc giản đơn hơn,.cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [2, tr.
414], hay nói cách khác, trong biểu tượng có sự “không thích hợp giữa tồn tại và hình thức …sự ứ tràn của nội dung ra ngoài hình thức biểu đạt của nó” (Tevezan Todorov) [2, tr. Thứ ba, theo TS.