CHƯƠNG 1: Những van đề chung về vốn kinh doanh và hệ thống chỉ tiêu thống kê phân tích vốn kinh doanh của Công ty Cổ phan Bia - rượu - nước giải khát Sài Gòn. CHƯƠNG 2: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Bia - rượu - nước giải khát Sài Gòn giai đoạn 2012 - 2018. CHUONG I: NHỮNG VAN ĐÈ CHUNG VE VON KINH DOANH VA HỆ THONG CHi TIEU THONG KE PHAN TICH VON KINH DOANH CUA CONG TY CO PHAN BIA - RƯỢU - NƯỚC GIẢI KHÁT SAI GON 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE VON KINH DOANH 1.
Khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là một trong ba nguồn lực chủ yếu rất quan trọng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất có thê bị trì trệ, bị gián đoạn. Vốn được doanh nghiệp huy động trong sản xuất, kinh doanh tạo nên các quỹ tiền tệ. Doanh nghiệp sử dụng quỹ này đề hình thành nên tài sản của mình.
Theo quan điểm của Mác: vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư băng cách bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Tiến hành sản xuất, nhà tư ban ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, tạo ra các yếu tô của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
Mác chia tư bản thành tư bản bắt biến và tư bản khả biến. Tư bản bat biến là bộ phận tư bản ton tại đưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,.) mà giá trỊ của nó được chuyên nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư ban khả biến là bộ phận tư bản tổn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình san xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng. Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học) thì: vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác.
Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Trong đó: Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp. Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về vốn kinh doanh tuy nhiên khái niệm được sử dụng phổ biến nhất như sau: “Vốn kinh doanh chính là nguôn lực tài chính được doanh nghiệp huy động trong sản xuất, kinh doanh mà quá trình vận dụng, chuyển hóa của chúng tạo nên các quỹ tiền tệ dé doanh nghiệp có thé sử dung chúng dé tạo nên các loại tài sản của riêng mình. ” (Giáo trình Thống kê doanh nghiệp — NXB Dai học Kinh tế Quốc dân, Chủ biên: PGS.Nguyễn Công Nhu) Vốn kinh doanh chính cũng là chìa khóa dé mỗi doanh nghiệp có thé hình thành va phát triển kinh doanh.
Dé hoạt động kinh doanh diễn ra suôn sẻ thi các doanh nghiệp phải cần có sẵn một khoản tiền ứng trước vì doanh nghiệp cần vốn dé cung cấp cho những yêu cầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Vai trò của vốn kinh doanh đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bat cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Dé tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó. Số vốn này thê hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Cụ thể: - Vốn là tiền đề cho sự thành lập của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn đi vào hoạt động kinh doanh đều phải đăng ký vốn điều lệ kèm hồ sơ đăng ký kinh doanh. Phan vốn kinh doanh đó chính là cơ sở quan trọng dé cơ quan nhà nước có thâm quyền xem xét cho doanh nghiệp đó có bắt đầu hoạt động kinh doanh được hay không, có ton tại trong tương lai được hay không dé từ đó có thé cấp giấy chứng nhận kinh doanh cho doanh nghiệp đó được hay không? - Von là điêu kiện tiên dé của quá trình sản xuât, kinh doanh Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp được bắt đầu khi doanh nghiệp đó có day đủ các yếu tố là: vốn, lao động và công nghệ. Vốn chính là một yếu tố quan trọng nhất trong ba yếu tố trên để quyết định rằng doanh nghiệp đó có bắt đầu hoạt động kinh doanh thành công hay không. Khi sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có vốn đê mua nguyên vật liệu đâu vào, thuê nhân công, mua máy móc thiệt bị,.
- Von quyét định sự ôn định và liên tục của quá trình sản xuât kinh doanh Khi mọi yếu tố được hoàn thiện hết, doanh nghiệp đã đi vào hoạt động thì dé dam bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, thường xuyên thi mọi doanh nghiệp đều phải dự trữ cho mình một lượng vốn cần thiết dé đáp ứng day đủ kịp thời moi tình huống có thé xảy ra trong khi hoạt động. Nhu cầu về vốn lưu động thường phát sinh rất thường xuyên như mua thêm nguyên vật liệu,mua thêm hang dé bán, mua thêm máy móc thiết bi, trả lương cho công nhân khi đến hạn.Không phải bat cứ lúc nào doanh nghiệp cũng kinh doanh hay bán các sản phẩm hàng hóa một cách thuận lợi dé thu được lợi nhuận mà vẫn có những lúc doanh nghiệp chưa tiêu thụ hết được hàng hóa, hàng tồn kho còn quá nhiều,. Vì vậy dé bù đắp cho những lúc thiếu hụt như vậy thì việc bổ sung vốn kịp thời là rat cần thiết dé đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra liên tục. Phân loại vốn kinh doanh Nguồn vốn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có thể phân loại được theo nhiều hình thức khác nhau.
Dưới đây là một số tiêu thức co bản nhất có thé dùng dé phân loại nguôn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quá trình hình thành: Xét theo quá trình hình thành của nguồn vốn kinh doanh ta có thê chia thành 2 loại Sau: s* Vốn chủ sở hữu (VC) “Vốn chủ sở hữu (mã số 410) là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp và các nhà dau tư góp vốn (vốn góp của chủ sở hữu), hoặc hình thành từ lợi nhuận sau thuế không chia (lợi nhuận sau thuế chưa phân phối), hoặc do tăng vốn bằng phát hành cô phiếu mới,. ” (Giáo trình Thống kê doanh nghiệp —NXB Dai học Kinh tế Quốc dân, Chủ biên: PGS.Nguyén Công Nhự) Nguồn vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của chủ thể về các tài sản hiện có của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn sau: - Vốn góp của chủ sở hữu: là số vốn hình thành khi thành lập doanh nghiệp (vốn pháp định hay vốn điều lệ).
- Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (hay lợi nhuận sau thuế không chia): là bộ phận lợi nhuận sau thuế được giữ lại làm tăng vốn chủ sở hữu. - Phát hành cổ phiếu mới: là một giải pháp thu hút vốn từ bên ngoài làm tăng vốn chủ sở hữu. Phát hành cô phiếu mới được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu không phải là khoản nợ, doanh nghiệp không cần phải cam kết thanh toán, không cần phải trả lãi suất.
Tuy nhiên lợi nhuận thu được do doanh nghiệp kinh doanh có lãi sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ vốn góp vào công ty. Ở hầu hết các loại hình doanh nghiệp, vốn góp của chủ sở hữu thường là thành phần g1ữ vi trí quan trọng trong von chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu đóng vai trò là nguồn vốn quan trọng trong cơ cấu của vốn kinh doanh. Vốn chủ sở hữu có tính chất lâu dài và không phải hoàn trả lại khi đến hạn nên nó đóng góp vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển lâu dai của mỗi doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn chủ sở hữu càng cao càng chứng tỏ khả năng huy động vốn kinh doanh rất thuận lợi và có uy tín của công ty đó. s* Nợ phải tra (NPT) “Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả hay phải thanh toán từ các nguồn lực của mình cho các chủ nợ, gốm: vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, dài hạn của ngân hàng và các tổ chức tin dụng, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn, các khoản phải nộp cho nhà nước,. ` , (Giáo trình Thống kê doanh nghiệp —NXB Dai học Kinh tế Quốc dân, Chủ biên: PGS.Nguyén Công Nhự) Các khoản nợ phải trả đó không thuộc vào quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng các khoản nợ phải trả đó là hợp pháp nên doanh nghiệp có thể coi như nguồn vốn của mình. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dai hạn nhưng trong đó nợ ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn hơn.
- Nợ ngắn hạn là các khoản nợ có thời hạn trả trong vòng một năm. Nợ ngắn hạn của doanh nghiệp có các thành phần gồm: phải trả người bán ngắn hạn, người mua trả tiền trước ngắn hạn, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả người lao động, chỉ phí phải trả ngăn hạn, phải trả nội bộ ngắn hạn, phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn, phải trả ngắn hạn khác, vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, dự phòng phải trả ngắn hạn,quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ bình 6n giá, giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ. - Nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn trả trên 1 năm. Nợ dài hạn của doanh nghiệp có thành phần gồm: phải trả người bán dài hạn, người mua trả tiền trước dài han, chi phí phải trả dai hạn, vay và nợ thuê tài chính, phải trả dai hạn khác, trái phiếu chuyên đổi, cỗ phiếu ưu đãi, .