Luận văn thạc sĩ nhận xét kết quả đình chỉ thai nghén của phác đồ mifepriston phối hợp misoprostol từ tuần 13 đến tuần 20 tại bệnh viện phụ sản trung ương

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích nhận xét kết quả đình chỉ thai nghén của phác đồ mifepriston phối hợp misoprostol từ tuần 13 đến, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về sinh lý tử cung

1.2. Giải phẫu và mô học tử cung khi chưa có thai

1.3. Những thay đổi của cổ tử cung và tử cung khi có thai

1.4. Đặc điểm tử cung khi có thai 3 tháng giữa

1.5. Nguyên nhân của chuyển dạ

1.6. Vai trò của Prostaglandin

1.7. Sự chín muồi cổ tử cung

1.8. Vai trò của Estrogen và progesteron

1.9. Vai trò của Oxytoxin

1.10. Các yếu tố khác

1.11. Các phương pháp đình chỉ thai nghén cho thai từ 13 đến 20 tuần tuổi

1.11.1. Phương pháp ngoại khoa

1.11.2. Phương pháp nong và gắp đơn thuần

1.11.3. Phương pháp nong và gắp có chuẩn bị CTC

1.11.4. Phương pháp mổ lấy thai hoặc cắt tử cung cả khối

1.11.5. Phương pháp ĐCTN nội khoa - gây sẩy thai

1.11.5.1. Gây sẩy thai bằng truyền oxytoxin đường tĩnh mạch
1.11.5.2. Gây sẩy thai bằng Misoprostol
1.11.5.2.1. Gây sẩy thai bằng MSP đơn thuần
1.11.5.2.2. Gây sẩy thai bằng cách sử dụng MFP kết hợp với MSP

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. Phương pháp thu thập thông tin

2.8. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin

2.9. Biến số và các chỉ số nghiên cứu

2.10. Kỹ thuật phân tích số liệu

2.11. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của phụ nữ trong nghiên cứu

3.2. Hiệu quả của phương pháp

3.3. Tác dụng không mong muốn

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.2. Tuổi của thai phụ

4.3. Đặc điểm về nghề nghiệp và trình độ học vấn

4.4. Tình trạng hôn nhân, tiền sử ĐCTN và tiền sử sinh đẻ

4.5. Tuổi thai trong nghiên cứu

4.6. Bàn luận về hiệu quả của phương pháp

4.7. Bàn luận về tỷ lệ thành công của phương pháp

4.8. Bàn luận về thời gian sẩy thai

4.9. Lượng MSP cần thiết cho sẩy thai

4.10. Bàn luận về sổ rau

4.11. Về thời gian nằm viện

4.12. Tác dụng không mong muốn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả phác đồ mifepriston và misoprostol

Nghiên cứu về hiệu quả của phác đồ mifepristonmisoprostol trong việc đình chỉ thai nghén từ tuần 13 đến 20 đã thu hút sự quan tâm lớn trong lĩnh vực y học. Phác đồ này được áp dụng nhằm giảm thiểu các rủi ro và tác dụng phụ so với các phương pháp truyền thống. Việc sử dụng mifepriston kết hợp với misoprostol đã cho thấy hiệu quả cao trong việc đình chỉ thai nghén, đồng thời đảm bảo an toàn cho sức khỏe của thai phụ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về hiệu quả của phác đồ mà còn mở ra hướng đi mới cho các phương pháp đình chỉ thai nghén an toàn hơn.

1.1. Đặc điểm của phác đồ mifepriston và misoprostol

Phác đồ mifepristonmisoprostol được thiết kế để tối ưu hóa hiệu quả đình chỉ thai nghén. Mifepriston là một thuốc kháng progesterone, giúp làm mềm và mở cổ tử cung, trong khi misoprostol là một prostaglandin có tác dụng kích thích co bóp tử cung. Sự kết hợp này tạo ra một quy trình hiệu quả, giúp giảm thiểu thời gian và đau đớn cho thai phụ.

1.2. Tại sao nghiên cứu phác đồ này lại quan trọng

Nghiên cứu phác đồ mifepristonmisoprostol là cần thiết vì tỷ lệ phá thai cao tại Việt Nam. Việc tìm kiếm các phương pháp an toàn và hiệu quả để đình chỉ thai nghén từ tuần 13 đến 20 là rất quan trọng, nhằm bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và giảm thiểu các biến chứng có thể xảy ra.

II. Vấn đề và thách thức trong đình chỉ thai nghén

Đình chỉ thai nghén từ tuần 13 đến 20 gặp nhiều thách thức, bao gồm việc mở cổ tử cung và giảm thiểu tác dụng phụ. Các phương pháp truyền thống thường gây ra nhiều biến chứng, như rách cổ tử cung và nhiễm trùng. Do đó, việc áp dụng phác đồ mifepristonmisoprostol được xem là một giải pháp khả thi để giảm thiểu những rủi ro này. Nghiên cứu cho thấy rằng phác đồ này không chỉ hiệu quả mà còn an toàn hơn so với các phương pháp cũ.

2.1. Những rủi ro khi sử dụng phương pháp truyền thống

Phương pháp truyền thống như nong và nạo gắp thường gây ra nhiều rủi ro cho thai phụ, bao gồm chảy máu, nhiễm trùng và thậm chí là vô sinh. Những rủi ro này đã thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm các phương pháp an toàn hơn.

2.2. Tác dụng phụ của mifepriston và misoprostol

Mặc dù phác đồ mifepristonmisoprostol được coi là an toàn, nhưng vẫn có thể xảy ra một số tác dụng phụ như buồn nôn, tiêu chảy và đau bụng. Việc hiểu rõ về các tác dụng phụ này giúp bác sĩ và bệnh nhân có thể chuẩn bị tốt hơn cho quá trình đình chỉ thai nghén.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả phác đồ mifepriston và misoprostol

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương với sự tham gia của nhiều thai phụ từ tuần 13 đến 20. Phác đồ mifepristonmisoprostol được áp dụng theo quy trình chuẩn, với việc theo dõi chặt chẽ các chỉ số sức khỏe của thai phụ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng, khẳng định tính hiệu quả của phác đồ này.

3.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu bao gồm việc lựa chọn đối tượng, thu thập dữ liệu và phân tích kết quả. Các thai phụ được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình sử dụng phác đồ mifepristonmisoprostol.

3.2. Các chỉ số đánh giá hiệu quả

Các chỉ số đánh giá hiệu quả bao gồm tỷ lệ thành công trong việc đình chỉ thai nghén, thời gian sẩy thai và các tác dụng phụ xảy ra. Những chỉ số này giúp đánh giá chính xác hiệu quả của phác đồ.

IV. Kết quả nghiên cứu về phác đồ mifepriston và misoprostol

Kết quả nghiên cứu cho thấy phác đồ mifepristonmisoprostol có tỷ lệ thành công cao trong việc đình chỉ thai nghén từ tuần 13 đến 20. Nghiên cứu ghi nhận rằng hầu hết các thai phụ đều không gặp phải các biến chứng nghiêm trọng. Điều này cho thấy phác đồ này là một lựa chọn an toàn và hiệu quả cho việc đình chỉ thai nghén trong giai đoạn này.

4.1. Tỷ lệ thành công của phác đồ

Tỷ lệ thành công của phác đồ mifepristonmisoprostol đạt trên 90%, cho thấy đây là một phương pháp hiệu quả trong việc đình chỉ thai nghén. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thời gian sẩy thai trung bình là ngắn, giúp giảm thiểu sự lo lắng cho thai phụ.

4.2. Tác dụng phụ và biến chứng

Mặc dù phác đồ này an toàn, nhưng vẫn có một số tác dụng phụ như buồn nôn và đau bụng. Tuy nhiên, tỷ lệ gặp phải các biến chứng nghiêm trọng là rất thấp, cho thấy tính an toàn của phương pháp.

V. Kết luận và tương lai của phác đồ mifepriston và misoprostol

Phác đồ mifepristonmisoprostol đã chứng minh được hiệu quả và tính an toàn trong việc đình chỉ thai nghén từ tuần 13 đến 20. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các phương pháp đình chỉ thai nghén, giúp giảm thiểu rủi ro cho thai phụ. Tương lai của phác đồ này hứa hẹn sẽ tiếp tục được nghiên cứu và cải tiến để nâng cao hiệu quả và an toàn hơn nữa.

5.1. Hướng đi mới trong nghiên cứu

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc tối ưu hóa liều lượng và quy trình sử dụng mifepristonmisoprostol để đạt được hiệu quả cao nhất. Việc nghiên cứu thêm về các tác dụng phụ cũng rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho thai phụ.

5.2. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản

Giáo dục sức khỏe sinh sản là rất quan trọng để nâng cao nhận thức của phụ nữ về các phương pháp đình chỉ thai nghén an toàn. Việc cung cấp thông tin đầy đủ sẽ giúp phụ nữ có quyết định đúng đắn hơn trong việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ nhận xét kết quả đình chỉ thai nghén của phác đồ mifepriston phối hợp misoprostol từ tuần 13 đến tuần 20 tại bệnh viện phụ sản trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về sinh lý tử cung 1. Giải phẫu và mô học tử cung khi chưa có thai Tử cung là một tạng rỗng của cơ quan sinh dục, nằm trong tiểu khung, sau phúc mạc, giữa bàng quang ở phía trước và trực tràng ở phía sau. Tử cung có hình nón dẹt, chia làm 3 phần: thân, eo, cổ.

Sơ đồ tử cung cắt đứng ngang [1]. Thân tử cung: hình thang, rộng ở trên gọi là đáy tử cung, hai sừng ở hai góc bên, dài khoảng 4-5 cm, rộng 4 cm. Eo tử cung: thắt nhỏ, dài khoảng 0,5 cm Cổ tử cung: là phần thấp nhất của tử cung, dài 2-3 cm, rộng 2 cm, tròn, đều, mật độ chắc [1]. Bản chất cấu tạo cơ thành tử cung là cơ trơn xen lẫn mô liên kết.

Tỷ lệ giữa cơ trơn và mô liên kết giảm dần từ đáy đến CTC. Cơ của CTC chủ yếu là cơ dọc, khi chuyển dạ các thớ cơ rút ngắn dần gọi là hiện tượng xóa mở CTC [11]. Những thay đổi của cổ tử cung và tử cung khi có thai 1. Thay đổi ở tử cung Trong nửa đầu của thời kỳ thai nghén tổ chức tử cung phát triển mạnh và trọng lượng tăng chủ yếu vào giai đoạn này.

Tháng thứ 04 - 05 thời kỳ thai nghén, thành tử cung dầy nhất khoảng 25 mm, trong khi không có thai chỉ dầy 10 mm. Đến cuối thời kỳ thai nghén, chiều dầy thân tử cung giảm xuống còn 05 – 10 mm. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự phát triển quan trọng này của tử cung là do ba yếu tố: bản thân các sợi cơ tử cung đã tăng sinh; các mạch máu kể cả động mạch, tĩnh mạch, mao mạch đều tăng lên và xung huyết; cuối cùng, cũng như toàn bộ cơ thể và các cơ quan khác thuộc bộ phận sinh dục khi có thai tử cung giữ nước nhiều [8, 12]. Thay đổi của cổ tử cung khi có thai Khi mang thai CTC mềm ra là do mô liên kết ở CTC tăng sinh và giữ nước mềm từ trung tâm đến ngoại vi, CTC người con rạ mềm hơn của người con so.

CTC thay đổi dài dần theo tuổi thai. Ở thời điểm 20 - 25 tuần CTC có chiều dài lớn nhất. Màng ối dính tương đối sát vào mặt trong buồng tử cung (BTC) và lỗ trong CTC. Nguy cơ đẻ non cũng hay được phát hiện sớm ở thời điểm này.

Theo Nguyễn Mạnh Trí, độ dài CTC dài nhất ở thời điểm 24 tuần, vào khoảng 46,07 ± 4,36 mm. Chiều dài CTC giảm dần và rõ rệt sau 32 tuần, nhưng không ngắn hơn so với độ dài thời điểm thai 14 - 19 tuần [19]. Thay đổi ở eo cổ tử cung (đoạn dưới cổ tử cung) Trước khi có thai, eo tử cung chỉ là một vòng nhỏ, chỉ khoảng 05 – 10 mm nằm giữa CTC và thân tử cung. Khi có thai những tháng cuối eo tử cung giãn rộng, dài ra và mỏng dần biến thành đoạn dưới tử cung.

Cho tới khi chuyển dạ, đoạn dưới tử cung dài tới 10 cm. Về cấu trúc đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ: lớp cơ ngoài và lớp cơ trong, không có lớp cơ đan ở giữa. Vì vậy, ngoại sản mạc hình thành ở đoạn dưới cũng không dầy bằng đoạn thân. Cũng do vậy đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ và sẩy thai, dễ chảy máu nhất khi có rau bám thấp [4].

Đặc điểm tử cung khi có thai 3 tháng giữa Khi có thai, cơ thể người mẹ có nhiều thay đổi, hai hormon ảnh hưởng trực tiếp đến giai đoạn này là estrogen và progesteron. Những thay đổi nội tiết là nguyên nhân chính dẫn tới những thay đổi về cấu trúc và chức năng của thân, eo ,CTC [59]. Mật độ: khi có thai tử cung mềm. Dưới tác dụng của progesteron, cơ tử cung giảm trương lực, các mạch máu tăng sinh, các sợi cơ phì đại và ngấm nước.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thân tử cung: ở tuổi thai 4 - 5 tháng cơ tử cung dày nhất khoảng 25 mm,tử cung có hình không đối xứng, tuổi thai này ngôi chưa ổn định. Chiều cao tử cung trên vệ 8-12 cm. Vào thời điểm thai 16-20 tuần đáy tử cung tiếp xúc với thành bụng trước. Eo tử cung: giãn mỏng dần và dài ra.

Đoạn dưới tử cung được thành lập trong suốt thai kỳ và rõ rệt khi có chuyển dạ. Cổ tử cung: mềm hơn khi chưa có thai. CTC người con dạ mềm hơn con so. Màng ối dính vào mặt trong buồng tử cung và lỗ trong CTC.

Chiều dài CTC thay đổi theo hai gia đoạn thai kỳ. Giai đoạn đầu, CTC dài dần ra, giai đoạn sau rút ngắn lại. Thời điểm CTC dài nhất là ở tuần 24, khoảng 46,07  4,36mm [19]. Do TC ít co bóp, đồng thời CTC dài nên trong 3 tháng giữ ít xảy ra hiện tượng sẩy thai, đây được coi là thời kỳ sống bình yên giữ mẹ và thai.

Tuy nhiên, đây cũng chính là khó khăn nếu phải gây sẩy thai vào thời kỳ này. Có sự cân bằng về nội tiết trong máu mẹ làm cơ tử cung kém đáp ứng với kích thích cơ học. Chưa có sự tăng prostaglandin (PG) để giúp làm mềm CTC [8, 12]. Nguyên nhân của chuyển dạ Động lực chính của cuộc chuyển dạ là cơn co tử cung (CCTC).

Người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải thích những nguyên nhân phát sinh những cơn co gây chuyển dạ, có một số giả thuyết được chấp nhận trong đó có vai trò khởi phát của Prostaglandin (PG). Vai trò của Prostaglandin Các PG là những chất có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của cơ tử cung. Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ tử cung vào lúc bắt đầu cuộc chuyển dạ đẻ. Giảm oxy trong quá trình chuyển dạ làm tăng quá trình tổng hợp PG.

Prostaglandin được tổng hợp từ màng rụng và màng ối. Các yếu tố: bấm ối, nhiễm trùng ối, tách ối có thể gây tăng tổng hợp đột ngột PG vào cuối thai kỳ [63, 75]. Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêm PG dù ở bất kỳ tuổi thai nào. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sự chín muồi cổ tử cung Cấu trúc CTC gồm: mô liên kết, nguyên bào sợi, tuyến nhầy, mạch máu và chỉ có khoảng 30% là sợi cơ. Các phân tử collagen tập hợp thành chuỗi tạo nên các sợi fibrin hình sọc. Khi gần đủ tháng số các liên kết collagen nội phân tử theo dạng ngang giảm đi và trở nên dễ hòa tan. Năm 1983, Uldberg là người đầu tiên cho rằng PG tác động vào quá trình ly giải collagen ở mô CTC, làm CTC chín muồi và mềm ra.

Một cách giải thích mang tính cơ học cho mối liên quan giữa CTC và chuyển dạ đó là sự căng của CTC, CTC bị căng ra hay bị kích thích là yếu tố quan trọng gây cơn co tử cung [52]. Vai trò của Estrogen và progesteron Trong quá trình thai nghén các chất estrogen tăng nhiều lần, làm tăng tính kích thích các sợi cơ trơn của tử cung và tốc độ lan truyền của hoạt động điện, cơ tử cung trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây CCTC, đặc biệt là oxytocin. Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ tử cung và thuận lợi cho việc tổng hợp các PG từ màng rụng và màng ối. Progesteron có tác dụng ức chế cơn co tử cung.

Nồng độ progesteron giảm ở cuối thời kỳ thai nghén làm tăng tỷ lệ estrogen/ progesteron là tác nhân gây chuyển dạ [25]. Vai trò của Oxytoxin Người ta đã xác định có sự tăng tiết oxytocin ở thuỳ sau tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ đẻ. Tuy vậy oxytocin không đóng vai trò để gây chuyển dạ đẻ mà chủ yếu làm tăng nhanh quá trình chuyển dạ đang diễn ra [28]. Các yếu tố khác Yếu tố thai nhi: thai vô sọ hoặc thiểu năng thượng thận thì thai nghén thường kéo dài, ngược lại nếu cường thượng thận sẽ gây đẻ non.

Các phương pháp đình chỉ thai nghén cho thai từ 13 đến 20 tuần tuổi 1. Phương pháp ngoại khoa 1. Phương pháp nong và gắp đơn thuần Tiến hành nong rộng CTC bằng cách sử dụng nong bằng kim loại, sau đó dùng kẹp gắp thai và rau, nạo lại BTC bằng dụng cụ. Phương pháp này chỉ áp dụng với những thai ở giai đoạn đầu của ba tháng giữa.

6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương pháp này có nhiều nhược điểm như nong rộng CTC khó khăn, gây đau, thường gặp tai biến như rách CTC, thủng tử cung, tổn thương các tạng lân cận, nhiễm khuẩn, dính BTC… dẫn đến vô sinh sau này. Hiện nay không còn sử dụng. Phương pháp nong và gắp có chuẩn bị CTC Nong và gắp có chuẩn bị CTC là phương pháp chấm dứt thai nghén bằng cách sử dụng thuốc để chuẩn bị CTC, sau đó nong CTC và dùng bơm hút chân không kết hợp với kẹp gắp thai để lấy thai ra, thường áp dụng cho tuổi thai từ 13 đến 18 tuần [5, 9]. Làm mềm và mở rộng CTC bằng ngậm cạnh má hoặc ngậm dưới lưỡi hoặc đặt âm đạo MSP 200 - 400 mcg [5, 42].

Ngoài ra có thể chuẩn bị CTC bằng que nong Laminaria và Dilapan, hay tác động lên CTC để tăng giải phóng PG giúp CTC mềm và giãn ra [33, 34]. Ưu điểm là nong CTC dễ dàng và ít sang chấn, ít gây đau, tuy nhiên nó có một số tác dụng không mong muốn (TDKMM) như khó thở, buồn nôn, tụt huyết áp, đặc biệt là nguy cơ nhiễm khuẩn. Tai biến của phương pháp có thể gặp là choáng, thủng tử cung, rách CTC, chảy máu, nhiễm khuẩn… 1. Phương pháp mổ lấy thai hoặc cắt tử cung cả khối Mổ lấy thai chỉ định cho những trường hợp có chống chỉ định với ĐCTN đường dưới, hoặc ĐCTN đường dưới thất bại hay có tai biến.

Tuy nhiên, khi mổ gặp nhiều khó khăn do đoạn dưới tử cung chưa thành lập và cơ tử cung rất dầy nên thường phải rạch dọc đoạn dưới tử cung để lấy thai vì vậy làm tăng nguy cơ chảy máu và vỡ tử cung ở lần có thai sau. Phương pháp cắt tử cung cả khối là cắt bỏ tử cung hoàn toàn hoặc cắt tử cung bán phần mà không cần lấy thai ra trước. Áp dụng cho các trường hợp có chống chỉ định với ĐCTN đường dưới và bệnh nhân có bệnh lý kèm theo nếu để tử cung thì không có lợi cho bệnh nhân [5]. Phương pháp ĐCTN nội khoa- gây sẩy thai Gây sẩy thai là phương pháp kích thích để tạo cơn co TC giống như chuyển dạ để đưa bào thai ra ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ