Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu sử dụng multi - enzyme và probiotic trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa" được Cù Thị Thuý Nga thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Phùng và PGS. Trần Tố, thuộc chuyên ngành Chăn nuôi, mã số 62.05, bảo vệ năm 2014. Luận án thuộc hướng nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng trong dinh dưỡng động vật, kết hợp phương pháp hóa sinh phân tích tiêu hóa và khảo nghiệm sinh trưởng thực địa trên lợn con giống ngoại.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong chăn nuôi lợn thâm canh, các chế phẩm sinh học như kháng sinh và hormone từng được sử dụng để thúc đẩy sinh trưởng và kiểm soát bệnh tật, nhưng quá trình sử dụng đã bộc lộ những mặt trái nghiêm trọng như gây hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn và để lại tồn dư hóa chất trong sản phẩm thịt, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người tiêu dùng. Điều này thúc đẩy nhu cầu cấp thiết tìm kiếm các chất bổ sung thay thế an toàn sinh học như enzyme tiêu hóa và probiotic nhằm nâng cao năng suất và cải thiện cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Cromwell, 2002; Jans, 2005; Fuller, 1989).
Giai đoạn sau cai sữa là thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng đối với lợn con do sự chuyển đổi đột ngột từ sữa mẹ sang thức ăn đặc gốc thực vật (stress dinh dưỡng) và sự thay đổi môi trường nuôi (stress sinh lý) (Fraser và cs, 1998; Cromwell và cs, 2000; Kiarie và cs, 2007). Lúc này, bộ máy tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện: dạ dày thiếu axit clohydric (HCl) tự do dẫn tới hiện tượng "Hypoclohydric", enzyme pepsinogen chưa được hoạt hóa thành pepsin, đồng thời hoạt tính các enzyme amylaza và proteaza nội sinh còn rất thấp. Hậu quả là tỷ lệ tiêu hóa thức ăn giảm sút, protein và tinh bột không được phân giải hết sẽ lên men ở ruột già, làm mất cân bằng vi sinh vật đường ruột, khiến lợn con dễ mắc hội chứng tiêu chảy và chậm lớn.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu axit amin cho lợn con sinh trưởng nhanh, thực tế sản xuất thường phối hợp khẩu phần có hàm lượng protein thô rất cao. Khi tỷ lệ các axit amin không cân đối, lượng nitơ dư thừa bị đào thải qua phân và nước tiểu, gây lãng phí kinh tế và ô nhiễm môi trường đất, nước. Đồng thời, nguồn nguyên liệu thức ăn sẵn có tại vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam như cám gạo, ngô và phụ phẩm sắn (bã sắn) có hàm lượng chất xơ thô và các hợp chất polysaccarit không phải tinh bột (NSP) tương đối cao (cám gạo chứa từ 7 - 25% xơ; bã sắn chiếm 16 - 45% vật chất khô). Mức xơ cao làm tăng độ nhớt dưỡng trấp, cản trở sự tiếp xúc của enzyme tiêu hóa với cơ chất và làm giảm tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất (Fernandez và cs, 1986; Noblet và cs, 2001; Len và cs, 2006a; Trần Văn Phùng và cs, 2012). Việc bổ sung multi-enzyme (chế phẩm đa enzyme ngoại sinh gồm proteaza, amylaza, xenlulaza) kết hợp hỗn hợp probiotic vào khẩu phần thức ăn địa phương có mức protein và xơ được điều chỉnh hợp lý là hướng tiếp cận được luận án xác định nhằm giải quyết đồng thời các hạn chế trên.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung multi - enzyme vào các khẩu phần có mức protein khác nhau và các khẩu phần có mức xơ thô khác nhau đến tỷ lệ tiêu hoá protein, tinh bột, chất xơ và sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn của lợn con giai đoạn sau cai sữa.
- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào các khẩu phần ăn đến sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn của lợn con giai đoạn sau cai sữa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lợn con giống ngoại sau cai sữa (sử dụng các giống ngoại thương phẩm và con lai ngoại gồm Landrace, Yorkshire, Pietrain Duroc và các tổ hợp lai LY, PiDu, YLD).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại các cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, bao gồm Trung tâm Thực hành Thực nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Trại giống lợn Tân Thái thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên; Nhà máy Công ty Thức ăn chăn nuôi Đại Minh; các phòng thí nghiệm thuộc Khoa Chăn nuôi Thú y và Viện Khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Các nội dung nghiên cứu thực nghiệm được triển khai trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được tác giả tổng thuật
Luận án tiến hành tổng quan tài liệu chuyên ngành một cách toàn diện qua các mảng nội dung chính:
- Đặc điểm sinh lý sinh trưởng và cơ quan tiêu hóa của lợn con: Tác giả trích dẫn Whitemore (1993) về bản chất sinh trưởng là quá trình phân chia và lớn lên của tế bào; Trần Văn Phùng và cs (2004) chỉ ra lợn con 3 tuần tuổi tích lũy 9 - 14 g protein/kg tăng khối lượng, trong khi lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g. Các tác giả Kornegay và cs (1979), Lecce và cs (1979), Amstrong và cs (1980), Funderburke và cs (1990), Võ Trọng Hốt và cs (2000) chứng minh giai đoạn khủng hoảng sau cai sữa kéo dài khoảng 2 tuần do chuyển đổi dinh dưỡng, cần tập ăn sớm từ 7 - 8 ngày tuổi. Về dung tích cơ quan tiêu hóa, Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) và Trương Lăng (2004) ghi nhận: dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít, đến 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần, 20 ngày tuổi tăng 8 lần, 60 ngày tuổi tăng 60 lần; dung tích ruột non sơ sinh 0,11 lít, 60 ngày tuổi tăng 50 lần; dung tích ruột già sơ sinh 0,04 lít, 60 ngày tuổi tăng 50 lần. Về phân tiết enzyme, Đào Trọng Đạt và cs (1995) ghi nhận amylaza nước bọt đạt hoạt tính cao nhất ở ngày thứ 14 nếu tách mẹ và ngày thứ 21 nếu theo mẹ; Trương Lăng (2004) chỉ ra HCl tự do chỉ xuất hiện ở 25 - 30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40 - 50 ngày tuổi; Corring và cs (1978) nghiên cứu sự phát triển của tuyến tụy và lipaza từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi.
- Ảnh hưởng của chế biến thức ăn và mức xơ, protein đến tiêu hóa: Từ Quang Hiển và cs (2001) chứng minh nghiền nhỏ hạt ngũ cốc giúp tăng tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô 3%, protein thô 4%, lipit thô 15%, xơ thô 2,2%. Trần Cừ (1985) chỉ rõ thức ăn nhiều nước làm giảm tiết nước bọt và dịch vị. Hoàng Văn Tiến (1995) nghiên cứu tính ngon miệng khi bổ sung lipit. Skoch và cs (1983), Lawrence và cs (1983), Hancock và cs (1991), Stark và cs (1993) và Chales Stanislaw (1998) khẳng định ép viên làm tăng gelatin hóa tinh bột và cải thiện 7 - 10% tốc độ sinh trưởng. Trần Văn Phùng (2004) ghi nhận mức dịch tụy tiết ra thay đổi theo hàm lượng protein thức ăn: khẩu phần protein thấp tiết 3225 ml, mức trung bình tiết 4400 ml, mức cao đạt 5280 ml dịch tụy; đồng thời cho ăn 5 bữa/ngày làm tăng 79,43% lượng dịch vị và 35,20% lượng dịch tụy so với cho ăn 3 bữa.
- Tiêu hóa protein, chất xơ và nhu cầu dinh dưỡng: Nghiên cứu của Lê Khắc Huy (1995) về tỷ lệ tiêu hóa protein và axit amin; Hồ Trung Thông (2006) chỉ ra khi tăng protein thức ăn từ 4,58% lên 30,02% thì tỷ lệ tiêu hóa protein biểu kiến tăng dần; Trần Quốc Việt và cs (2001) dùng chỉ thị $Cr_2O_3$ cho thấy khi giảm 1% protein thô trong khẩu phần thì tỷ lệ tiêu hóa protein tăng từ 0,19 - 1,87%; Wiseman và cs (1991), Le Goff và cs (2002) chỉ rõ khả năng tiêu hóa phụ thuộc tuổi và chất kháng dinh dưỡng; Trần Quốc Việt và cs (2010) bổ sung đa enzyme và probiotic-enzyme nâng cao tỷ lệ tiêu hóa xơ từ 5,73 - 12,4%. Về nhu cầu năng lượng và protein: ARC (1981) khuyến cáo ME là 3100 Kcal/kg; Lê Thanh Hải và cs (1999), Lã Văn Kính và cs (2002), Nguyễn Thị Lương Hồng và cs (2003) đề xuất 3200 - 3400 Kcal/kg; Trần Quốc Việt và cs (2003) chứng minh mức 3179 Kcal/kg là thích hợp; TCVN 1547-1994 quy định ME 3200 Kcal/kg, protein thô 17% (lợn lai) và 19% (lợn ngoại); NRC (1998) khuyến cáo 20,9 - 23,7% CP. Về chất xơ: Li và cs (1996), Noblet và cs (2001), Khieu Borin và cs (2005), Len và cs (2006b) lưu ý xơ vượt quá 8% làm giảm tiêu hóa và thu nhận thức ăn; Bolduan và cs (1988) đề xuất 50 g xơ/kg; Mateos và cs (2006) đề xuất 60 g NDF/kg; Molist và cs (2009), Freire và cs (2000) khảo sát các nguồn xơ cám mì, củ cải đường, cỏ alfalfa.
- Ứng dụng enzyme và probiotic trong chăn nuôi lợn: Lã Văn Kính và cs (2001) bổ sung Porzyme 9300 cải thiện 3,42% khối lượng và giảm 3,37% tiêu tốn thức ăn; Đỗ Văn Quang và cs (2005) bổ sung amylaza và proteaza vào khẩu phần protein thấp làm tăng hiệu quả kinh tế 3,8 - 4,2%; Vũ Duy Giảng (2009) bổ sung Hemicell® tăng năng lượng trao đổi thêm 100 - 150 Kcal ME/kg và tăng tỷ lệ tiêu hóa axit amin 1,5 - 2,3%; Phùng Thị Vân và cs (2001) dùng Bacomos nâng tăng khối lượng lợn con 5,26 - 5,76%; Chem Gen (2006) ghi nhận tăng khối lượng 5,3%; Omogbenigun và cs (2004) dùng tổ hợp glucanaza nâng tiêu hóa tinh bột lên 87 - 94%; Barrera và cs (2004) dùng xylanaza 11.000 UI/kg tăng tiêu hóa protein hồi tràng. Về probiotic: Scheuemann (1993) tăng 5 - 6% tiêu hóa protein; Nguyễn Như Viên (1976) sản xuất chế phẩm Bacillus subtilis từ đậu tương, cám gạo; Kiriakis và cs (1999) dùng Bacillus licheniformis $10^7$ bào tử/g giảm tiêu chảy; Hadani và cs (2002) dùng Probactric giảm tiêu chảy 6,6%; Phạm Khắc Hiếu và cs (2002) dùng EM1 giảm vi khuẩn E. coli; Nguyễn Như Pho và cs (2003) dùng Organic Green giảm tỷ lệ tiêu chảy 1,5 - 5,7% ở lợn con cai sữa; Vũ Duy Giảng (2007) dùng Probios chứng minh hiệu quả tương đương kháng sinh Tylozin; Ngô Thị Hồng Thịnh (2008) dùng BIOSAF giảm tiêu chảy 22%; Phạm Thế Sơn và cs (2008) dùng EM-TK 21 giảm 50% tiêu chảy; Trần Quốc Việt và cs (2007, 2009) sử dụng hỗn hợp vi khuẩn lactic và Bacillus subtilis tăng sinh trưởng 11,9 - 16,4% và giảm tiêu tốn thức ăn 5,3%.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù việc sử dụng enzyme ngoại sinh và vi sinh vật hữu ích đã được thử nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu trước đây áp dụng trên khẩu phần thức ăn chuẩn (ngô - khô đậu tương) hoặc trên lợn thịt giai đoạn lớn (trên 20 kg). Khoảng trống nghiên cứu chưa được làm rõ là:
- Đánh giá tác động tương hỗ của multi-enzyme chuyên biệt (gồm proteaza và amylaza) khi chủ động giảm mức protein thô trong khẩu phần của lợn con sau cai sữa giống ngoại.
- Xác định hiệu quả của multi-enzyme chứa đồng thời proteaza, amylaza và xellulaza trong việc giải phóng dưỡng chất khi tăng tỷ lệ sử dụng các nguồn nguyên liệu giàu xơ sẵn có tại địa phương (cám gạo, bã sắn vùng trung du miền núi phía Bắc).
- Đánh giá hiệu quả của tổ hợp probiotic đa chủng chịu nhiệt kết hợp enzyme phân giải vách tế bào nấm men ($\beta$-glucanase) trên các chỉ tiêu tiêu chảy, chuyển hóa dưỡng chất và chi phí thức ăn trên lợn con cai sữa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Lý thuyết về sinh lý tiêu hóa thiếu hụt tạm thời ở lợn con: Khung phân tích dựa trên sự thiếu hụt enzyme nội sinh và axit dịch vị ở giai đoạn 3 - 8 tuần tuổi. Khái niệm "Hypoclohydric" mô tả tình trạng dạ dày không có đủ HCl tự do để đưa pH xuống mức tối ưu (1,5 - 2,5), khiến pepsinogen không thể chuyển thành pepsin, làm giảm khả năng thủy phân protein thực vật và giảm rào cản diệt khuẩn đường tiêu hóa.
- Lý thuyết xúc tác enzyme và tính đặc hiệu: Bản chất enzyme là protein, hoạt động theo cơ chế xúc tác sinh học giảm năng lượng hoạt hóa. Luận án vận dụng 4 kiểu đặc hiệu của enzyme (đặc hiệu tuyệt đối, đặc hiệu tương đối, đặc hiệu theo kiểu phản ứng và đặc hiệu hình học không gian). Khung phân giải bao gồm:
- $\alpha$-amylaza cắt ngẫu nhiên liên kết $\alpha$-1,4-glucozit bên trong phân tử tinh bột tạo dextrin phân tử lượng thấp, kết hợp $\beta$-amylaza tạo maltoz và maltaza thủy phân thành glucoz.
- Proteaza thủy phân liên kết peptit (-CO-NH-) trong chuỗi polypeptit thành pepton, peptit ngắn và phối hợp với peptidaza nội sinh tạo axit amin tự do.
- Phức hệ xellulaza gồm 3 nhóm: Endo-$\beta$-1,4-glucanaza (cacboxymetyl xellulaza, EC 3.2.1.4), Exo-$\beta$-1,4-glucanaza (xellobiohydrolaza, EC 3.2.1.91) và $\beta$-glucozidaza (EC 3.2.1.21) cắt liên kết $\beta$-1,4-O-glucozit của cellulose giải phóng $\beta$-glucoz.
- Cơ chế tác động của Probiotic / DFM (Direct Fed Microbials): Dựa trên nguyên lý loại trừ cạnh tranh (competitive exclusion) của Fuller (1989), probiotic bám dính vào thụ quan trên nhung mao ruột, cạnh tranh vị trí bám và chất dinh dưỡng với vi khuẩn gây bệnh (E. coli, Salmonella); tiết ra các axit hữu cơ (axit lactic, axit axetic, propionic) làm hạ pH đường ruột; sản sinh kháng sinh sinh học (lactacin B, hydrogen peroxit); peptidoglycan vách tế bào vi khuẩn kích thích đại thực bào và hệ thống mô lympho đường ruột sản sinh kháng thể.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án triển khai 5 thí nghiệm chuyên biệt:
- Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza và amylaza đến tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột, chất xơ của lợn con sau cai sữa nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau (áp dụng phương pháp thử nghiệm tiêu hóa).
- Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza và amylaza đến sinh trưởng (tích lũy, tuyệt đối), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, tiêu tốn protein, tiêu tốn lyzin và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng ở các mức protein khác nhau.
- Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza, amylaza và xenlulaza đến tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột và chất xơ của lợn con nuôi bằng khẩu phần có mức xơ thô khác nhau.
- Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza, amylaza và xenlulaza đến sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), tiêu tốn protein, tiêu tốn lyzin và chi phí thức ăn của lợn con nuôi bằng khẩu phần có mức xơ khác nhau.
- Thí nghiệm 5: Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm probiotic đến khối lượng, sinh trưởng tích luỹ, sinh trưởng tuyệt đối, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, lượng thức ăn tiêu thụ, tiêu tốn thức ăn, ME, protein, lyzin và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn con sau cai sữa.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được phân tích thống kê sinh học bằng phần mềm chuyên ngành, so sánh sai khác giá trị trung bình giữa các lô đối chứng và thí nghiệm qua mức ý nghĩa xác suất ($P < 0,05$; $P < 0,01$; $P < 0,001$) và hệ số xác định ($R^2$).
Nguồn tư liệu, dữ liệu và chế phẩm sinh học sử dụng
| Tiêu chí |
Chế phẩm Multi-Enzyme |
Chế phẩm Probiotic |
| Nhà sản xuất / Cung cấp |
Hãng Bayer sản xuất |
Hãng tại Mỹ sản xuất, Công ty CP thuốc thú y Toàn Thắng nhập khẩu |
| Thành phần hoạt chất |
Proteaza: 200.000 UI/100 g Amylaza: 5.600 UI/100 g Xellulaza: 120.000 UI/100 g |
Lactobacillus acidophilus Bacillus subtilis Saccharomyces cerevisiae Lactobacillus casei Hỗn hợp enzyme $\beta$-glucanase |
| Mật độ / Hoạt tính |
Chế phẩm dạng bột đậm đặc |
$10^8$ CFU/g chế phẩm |
| Liều lượng sử dụng |
100 g sản phẩm / 1.000 kg thức ăn hỗn hợp |
1 kg sản phẩm / 500 kg thức ăn hỗn hợp |
| Mật độ hoạt lực trong thức ăn |
1 kg thức ăn có: 2.000 UI proteaza; 56 UI amylaza; 1.200 UI xellulaza |
$200 \times 10^8$ CFU/kg thức ăn |
Nguồn nguyên liệu thức ăn cơ sở được thiết lập dựa trên các nguyên liệu sản xuất tại chỗ ở vùng trung du và miền núi phía Bắc gồm: ngô vàng nghiền, cám gạo loại 1 và cám gạo lẫn trấu, bã sắn thủ công, bột đậu tương, bột cá kiên cố, kết hợp bổ sung premix vitamin, khoáng vi lượng, DCP, bột đá và các axit amin công nghiệp (L-lyzin, DL-methionin).
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần Mở đầu trình bày tính cấp thiết xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của ngành chăn nuôi lợn trong bối cảnh cần thay thế kháng sinh kích thích sinh trưởng, giải quyết tình trạng stress sau cai sữa làm suy giảm khả năng tiêu hóa, hạn chế ô nhiễm môi trường do bài tiết nitơ dư thừa, và khai thác hiệu quả nguồn phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ tại chỗ ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc (Thái Nguyên và vùng phụ cận). Tác giả xác lập rõ mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu về tiêu hóa dưỡng chất, ý nghĩa thực tiễn trong xây dựng công thức thức ăn hạ giá thành, và nêu tóm tắt 2 điểm đóng góp mới của đề tài.
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến đề tài qua 4 tiểu mục lớn:
- Đặc điểm của lợn con: Phân tích quá trình sinh trưởng nhanh và sự tích lũy protein mạnh mẽ ở lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa (tích lũy nạc cao, nhu cầu năng lượng/kg tăng trọng thấp hơn lợn lớn). Khảo sát chi tiết sự phát triển hình thái giải phẫu của bộ máy tiêu hóa: dung tích dạ dày tăng từ 0,03 lít lúc sơ sinh lên gấp 60 lần lúc 60 ngày tuổi (đạt khoảng 1,8 lít); ruột non tăng từ 0,11 lít lên gấp 50 lần (đạt 5,5 lít); ruột già tăng từ 0,04 lít lên gấp 50 lần (đạt 2,0 lít). Phân tích đặc điểm bài tiết dịch tiêu hóa: hiện tượng thiếu HCl tự do trong 25 - 30 ngày đầu làm giảm hoạt lực pepsin dịch vị và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập; enzyme amylaza dịch tụy và nước bọt chỉ hoạt động mạnh sau 3 tuần tuổi; enzyme lactaza giảm nhanh sau 2 tuần tuổi; trypsin dịch tụy xuất hiện sớm từ giai đoạn bào thai để bù đắp tiêu hóa protein. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng như kích thước nghiền thức ăn, ép viên làm tăng gelatin hóa tinh bột, kỹ thuật rang chín, số bữa ăn trong ngày và cân đối dinh dưỡng khẩu phần.
- Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con: Khái quát nhu cầu năng lượng trao đổi (ME từ 3100 - 3400 Kcal/kg thức ăn); nhu cầu protein thô (20 - 22% CP ở lợn con theo NRC 1998 và TCVN 1547-1994) và mối quan hệ cân đối axit amin/năng lượng (lyzin, methionin + cystin, threonin, tryptophan). Trình bày khả năng hạ protein khẩu phần khi bổ sung axit amin tổng hợp nhằm giảm đào thải nitơ từ 15 - 35% ra môi trường theo các nghiên cứu của Đại học Kentucky. Đánh giá vai trò của chất xơ: mức xơ trên 8% làm giảm thu nhận và tiêu hóa thức ăn, mức xơ khuyến cáo phù hợp là 2,5 - 3,5% hoặc 50 - 60 g NDF/kg thức ăn; giới thiệu tiềm năng các nguồn nguyên liệu giàu xơ của miền núi phía Bắc (diện tích 95.388 $km^2$) gồm cám gạo (7 - 25% xơ) và bã sắn thủ công (16 - 45% vật chất khô). Khái quát nhu cầu khoáng (tỷ lệ Ca/P từ 1,5 - 2/1), vitamin (A, D, E, B1) và nhu cầu nước.
- Enzyme và ứng dụng trong chăn nuôi: Hệ thống hóa bản chất hóa học protein của enzyme, khái niệm hệ thống đa enzyme (multi-enzyme), 4 kiểu đặc hiệu xúc tác. Trình bày nguyên tắc bổ sung enzyme ngoại sinh để thủy phân liên kết polysaccarit không phải tinh bột (NSP) nhằm giải tỏa các chất kháng dinh dưỡng và giảm độ nhớt đường ruột. Mô tả chi tiết cơ chế thủy phân tinh bột của hệ amylaza ($\alpha$-amylaza, $\beta$-amylaza, glucozamylaza); cơ chế cắt mạch liên kết peptit của proteaza; cơ chế phân giải cellulose của phức hệ xellulaza (Endo-$\beta$-glucanaza, Exo-$\beta$-glucanaza, $\beta$-glucozidaza). Tổng hợp các công trình ứng dụng enzyme trong và ngoài nước (Hemicell, Porzyme 9300, Bacomos...). Giới thiệu chi tiết thông số hoạt lực của chế phẩm multi-enzyme Bayer dùng trong nghiên cứu.
- Probiotic và ứng dụng trong chăn nuôi: Trình bày định nghĩa probiotic/DFM của Fuller (1989) và US FDA (1989). Phân tích 4 chức năng cốt lõi: chức năng hàng rào biểu mô, chức năng miễn dịch ruột, chức năng kháng khuẩn cạnh tranh và chức năng tăng cường tiêu hóa - chuyển hóa chất. Trình bày cơ chế duy trì tỷ lệ cân bằng vi sinh vật 85% vi khuẩn có ích / 15% vi khuẩn có hại. Điểm lại các công trình ứng dụng vi khuẩn lactic và Bacillus trong phòng ngừa tiêu chảy và nâng cao sinh trưởng của Kiriakis (1999), Hadani (2002), Phạm Khắc Hiếu (2002), Vũ Duy Giảng (2007), Trần Quốc Việt (2007, 2009). Thuyết minh chi tiết đặc tính sinh học, vai trò của từng thành phần trong hỗn hợp probiotic Toàn Thắng gồm Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiae, Lactobacillus casei và enzyme $\beta$-glucanase.
Chương 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm khoa học:
- Đối tượng, địa điểm, thời gian: Đàn lợn con giống ngoại sau cai sữa nuôi tại Trại giống lợn Tân Thái và Trung tâm Thực hành Thực nghiệm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong thời gian 2008 - 2012.
- Nội dung và bố trí 5 thí nghiệm:
- Nội dung 1 (Thí nghiệm 1 & 2): Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza, amylaza đến tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau. Thí nghiệm 1 xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất (protein, tinh bột, xơ thô). Thí nghiệm 2 bố trí lô đối chứng và các lô thí nghiệm nuôi lợn con từ sau cai sữa, đo đạc khối lượng định kỳ, tính toán sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày), lượng thức ăn ăn vào (FI), tiêu tốn thức ăn (TTTĂ), tiêu tốn protein, tiêu tốn lyzin và hạch toán chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng.
- Nội dung 2 (Thí nghiệm 3 & 4): Khảo sát ảnh hưởng của multi-enzyme chứa proteaza, amylaza, xenlulaza đến tỷ lệ tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con nuôi bằng khẩu phần có mức xơ thô khác nhau. Thí nghiệm 3 xác định tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột, chất xơ. Thí nghiệm 4 đánh giá năng suất sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME/kg tăng khối lượng), tiêu tốn protein, tiêu tốn lyzin và chi phí kinh tế.
- Nội dung 3 (Thí nghiệm 5): Đánh giá hiệu quả của hỗn hợp probiotic đa chủng bổ sung vào khẩu phần thức ăn hỗn hợp. Các chỉ tiêu theo dõi gồm sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy qua các tuần tuổi, lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, tiêu tốn ME, protein, lyzin và chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng khối lượng.
- Phương pháp phân tích hóa học và xử lý số liệu: Lấy mẫu thức ăn, phân theo phương pháp tiêu chuẩn; phân tích vật chất khô, protein thô (Kjeldahl), xơ thô (Weende), tinh bột, khoáng tổng số tại phòng thí nghiệm trung tâm; xử lý thống kê sinh học so sánh trung bình lô.
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương 3 trình bày hệ thống kết quả thực nghiệm tương ứng với 3 nội dung nghiên cứu lớn:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của multi - enzyme đến tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột, chất xơ và sinh trưởng của lợn con sau cai sữa nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau:
- Kết quả Thí nghiệm 1: Bổ sung multi-enzyme (chứa proteaza và amylaza) vào các khẩu phần có mức protein khác nhau đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của protein thô và tinh bột so với lô không bổ sung. Khi giảm mức protein thô trong khẩu phần cơ sở nhưng có bổ sung multi-enzyme, tỷ lệ tiêu hóa protein vẫn được duy trì ở mức tương đương hoặc cao hơn khẩu phần có mức protein cao không có enzyme.
- Kết quả Thí nghiệm 2: Lợn con ở các lô ăn khẩu phần có bổ sung multi-enzyme đạt khối lượng kết thúc và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, tiêu tốn protein và tiêu tốn lyzin giảm rõ rệt. Việc hạ thấp tỷ lệ protein thô trong khẩu phần kết hợp bổ sung enzyme giúp giảm chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng khối lượng của lợn con.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của multi - enzyme đến tỷ lệ tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con sau cai sữa được nuôi bằng khẩu phần có mức xơ khác nhau:
- Kết quả Thí nghiệm 3: Khẩu phần có hàm lượng xơ thô cao bổ sung multi-enzyme chứa phức hệ proteaza, amylaza và xellulaza đã cải thiện rõ rệt tỷ lệ tiêu hóa chất xơ, đồng thời tăng tỷ lệ tiêu hóa protein và tinh bột. Enzyme xellulaza đã thủy phân màng tế bào thực vật, giải phóng các chất dinh dưỡng bị bao bọc bên trong để tiếp xúc với các enzyme tiêu hóa khác.
- Kết quả Thí nghiệm 4: Đánh giá sinh trưởng cho thấy việc bổ sung chế phẩm enzyme chứa xellulaza cho phép nâng cao tỷ lệ nguyên liệu giàu xơ địa phương (cám gạo, bã sắn) trong khẩu phần mà không làm suy giảm tốc độ tăng khối lượng của lợn con. Tiêu tốn thức ăn, tiêu tốn ME, tiêu tốn protein và lyzin trên mỗi kg thể trọng tăng đều giảm, từ đó giảm chi phí thức ăn trên một kg tăng trọng ở các lô thí nghiệm so với lô không bổ sung enzyme.
- Kết quả Thí nghiệm 5 (Ảnh hưởng của Probiotic):
- Sinh trưởng tích lũy và tuyệt đối: Lợn con ở lô được bổ sung hỗn hợp probiotic đạt sinh trưởng tích luỹ qua các giai đoạn tuổi và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao hơn hẳn so với lô đối chứng không bổ sung probiotic.
- Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy: Bổ sung hỗn hợp probiotic đã làm giảm mạnh tần suất và mức độ nghiêm trọng của bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa, đặc biệt trong 2 - 3 tuần đầu tiên sau khi tách mẹ.
- Hiệu quả sử dụng thức ăn: Lượng thức ăn tiêu thụ được cải thiện, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR), tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), protein và lyzin/kg tăng thể trọng đều giảm; chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng ở lô sử dụng probiotic thấp hơn so với lô đối chứng.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Tổng hợp các kết luận khoa học rút ra từ 5 thí nghiệm thực nghiệm và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật cụ thể về tỷ lệ phối hợp protein thô, xơ thô trong khẩu phần cùng liều lượng bổ sung chế phẩm multi-enzyme (100 g/tấn thức ăn) và probiotic ($200 \times 10^8$ CFU/kg thức ăn) để ứng dụng trong các cơ sở chăn nuôi lợn con sau cai sữa tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm khách quan về tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của protein, tinh bột và chất xơ ở lợn con giống ngoại sau cai sữa khi được nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau và khẩu phần có mức xơ thô khác nhau có bổ sung chế phẩm multi-enzyme.
- Bổ sung cơ sở khoa học về việc phối hợp đồng thời nhiều hoạt lực enzyme ngoại sinh (proteaza, amylaza, xellulaza) nhằm khắc phục sự thiếu hụt sinh lý tạm thời của dịch tiêu hóa dạ dày và tụy ở lợn con sau cai sữa.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho khả năng hạ thấp tỷ lệ protein thô trong khẩu phần ăn của lợn con mà vẫn duy trì được năng suất sinh trưởng thông qua việc nâng cao hiệu suất lợi dụng protein nhờ enzyme proteaza và cân đối axit amin thiết yếu.
- Làm sáng tỏ vai trò của tổ hợp probiotic đa chủng sinh axit lactic, sinh bào tử và nấm men kết hợp enzyme $\beta$-glucanase trong việc cải thiện môi trường vi sinh vật đường ruột, hạn chế rối loạn tiêu hóa và nâng cao khả năng chuyển hóa dưỡng chất ở lợn con.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đã ứng dụng thành công các chế phẩm sinh học (multi-enzyme và probiotic) vào khẩu phần nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa được phối chế từ các nguồn nguyên liệu thức ăn sẵn có tại địa phương vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam (ngô, cám gạo, bã sắn thủ công).
- Đưa ra khuyến cáo thực tiễn về công thức thức ăn hỗn hợp có mức protein và mức xơ thô hợp lý:
- Khuyến cáo bổ sung chế phẩm multi-enzyme với liều 100 g cho 1000 kg thức ăn (cung cấp 2000 UI proteaza, 56 UI amylaza và 1200 UI xellulaza/kg thức ăn), cho phép giảm chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng và hạ lượng nitơ thải ra môi trường.
- Khuyến cáo sử dụng hỗn hợp probiotic đa chủng với liều 1 kg cho 500 kg thức ăn (mật độ $200 \times 10^8$ CFU/kg thức ăn) để phòng ngừa tiêu chảy, giảm tiêu tốn thức ăn và nâng cao tốc độ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa.
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật giúp các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi địa phương và các trang trại chủ động tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp giá rẻ, giảm giá thành chăn nuôi và hạn chế ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào nội dung và phạm vi nghiên cứu được phản ánh trong toàn văn tài liệu, công trình có một số giới hạn thực tế sau:
- Giới hạn về đối tượng và địa bàn nghiên cứu: Thí nghiệm chỉ tập trung khảo nghiệm trên các giống lợn ngoại và tổ hợp lai ngoại thương phẩm nuôi tại các trang trại thuộc tỉnh Thái Nguyên, đại diện cho tiểu vùng trung du miền núi phía Bắc; chưa tiến hành khảo nghiệm so sánh trên các giống lợn nội, lợn bản địa hoặc mở rộng sang các vùng sinh thái nông nghiệp khác.
- Giới hạn về thời gian theo dõi sinh trưởng: Các khảo nghiệm dừng lại ở giai đoạn lợn con sau cai sữa (từ khi cai sữa đến khi kết thúc giai đoạn lợn con). Ảnh hưởng tồn dư hoặc hiệu ứng kéo theo (carry-over effect) của việc sử dụng multi-enzyme và probiotic giai đoạn sau cai sữa đối với năng suất sinh trưởng, chất lượng thân thịt và tỷ lệ nạc ở giai đoạn lợn thịt vỗ béo xuất chuồng chưa được theo dõi trong công trình này.
- Giới hạn về chủng loại chế phẩm: Đề tài tập trung đánh giá 2 chế phẩm cụ thể (multi-enzyme của hãng Bayer và hỗn hợp probiotic của Mỹ do Công ty Toàn Thắng cung ứng), chưa mở rộng so sánh đối chứng hiệu quả sinh học và kinh tế giữa nhiều dạng chế phẩm thương phẩm có nguồn gốc và thành phần hoạt chất khác nhau trên thị trường.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y, Dinh dưỡng động vật: Cung cấp tài liệu tham khảo phương pháp luận về bố trí thí nghiệm dinh dưỡng lợn con, phương pháp đánh giá tỷ lệ tiêu hóa thức ăn và phân tích sinh lý tiêu hóa.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu nông nghiệp: Cung cấp nguồn số liệu thực nghiệm hệ thống về hoạt tính enzyme, nhu cầu dinh dưỡng, cơ chế hoạt động của probiotic và giải pháp thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi.
- Kỹ sư dinh dưỡng và chuyên viên phối chế tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi: Tham khảo trực tiếp công thức phối chế khẩu phần, liều lượng bổ sung multi-enzyme và probiotic, cùng giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sử dụng cám gạo và phụ phẩm sắn trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.
- Chủ trang trại chăn nuôi lợn và cán bộ khuyến nông: Tham khảo các giải pháp thực hành chăn nuôi lợn con sau cai sữa nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, hạ hệ số chuyển hóa thức ăn và nâng cao hiệu quả kinh tế chu kỳ nuôi.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án
- Tổng quan sinh lý tiêu hóa lợn con (Chương 1): Cung cấp thông tin chi tiết về sự biến đổi dung tích dạ dày - ruột, động thái phân tiết enzyme nội sinh và hiện tượng thiếu axit dịch vị sau cai sữa.
- Quy trình bố trí hệ thống 5 thí nghiệm (Chương 2): Khung thiết kế nghiên cứu chia tách rõ ràng giữa đánh giá tiêu hóa dưỡng chất (in vivo) và đánh giá sinh trưởng thực địa ở các mức protein, xơ thô khác nhau.
- Các bảng số liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiêu hóa và chuyển hóa thức ăn (Chương 3): Hệ thống bảng số liệu phản ánh chi tiết mức độ cải thiện tiêu hóa protein, xơ thô và giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng khi có bổ sung enzyme và probiotic.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần hoạt lực và liều lượng sử dụng của chế phẩm multi-enzyme trong luận án là gì?
Chế phẩm multi-enzyme do hãng Bayer sản xuất. Trong 100 gam sản phẩm chứa:
- Proteaza: 200.000 UI
- Amylaza: 5.600 UI
- Xellulaza: 120.000 UI
Liều lượng bổ sung theo khuyến cáo của nhà sản xuất và được luận án áp dụng là: 100 gam sản phẩm cho 1.000 kg thức ăn hỗn hợp. Khi đó, trong mỗi kg thức ăn hỗn hợp sẽ có 2.000 UI proteaza, 56 UI amylaza và 1.200 UI xellulaza.
2. Thành phần các chủng vi sinh vật và mật độ của chế phẩm probiotic sử dụng trong nghiên cứu ra sao?
Chế phẩm probiotic do Công ty Cổ phần thuốc thú y Toàn Thắng nhập khẩu từ Mỹ, có mật độ vi sinh vật tổng số là $10^8$ CFU/g. Thành phần gồm 4 chủng vi sinh vật và enzyme hỗ trợ:
- Lactobacillus acidophilus: Trực khuẩn lactic gram dương, chịu axit, sản xuất axit hữu cơ và bacteriocin (lactacin B), ức chế vi khuẩn có hại.
- Bacillus subtilis: Trực khuẩn gram dương sinh bào tử, sản sinh các enzyme amylaza, proteaza, xellulaza và tổng hợp vitamin nhóm B.
- Saccharomyces cerevisiae: Nấm men đơn bào, vách tế bào chứa mannan và glucan giúp kích thích miễn dịch, hấp phụ độc tố đường ruột.
- Lactobacillus casei: Vi khuẩn lactic kị khí tùy tiện, kích thích tiêu hóa và sản sinh enzyme amylaza.
- Enzyme $\beta$-glucanase: Thủy phân tổ chức liên kết $\beta$-glucan của thành tế bào nấm men và thức ăn, hỗ trợ tiêu hóa chất xơ.
Liều lượng sử dụng là 1 kg sản phẩm cho 500 kg thức ăn hỗn hợp, tương đương mật độ $200 \times 10^8$ CFU/kg thức ăn.
3. Tại sao lợn con sau cai sữa gặp khó khăn lớn trong việc tiêu hóa protein và tinh bột có nguồn gốc thực vật?
Theo phân tích của luận án, nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm sinh lý chưa hoàn thiện của hệ tiêu hóa lợn con:
- Với protein: Trong 25 - 30 ngày đầu sau sinh, dịch vị dạ dày lợn con chưa tiết đủ lượng axit HCl tự do (gây hiện tượng "Hypoclohydric"). Do thiếu môi trường axit (pH tối ưu từ 1,5 - 2,5), enzyme pepsinogen không thể hoạt hóa thành pepsin hoạt động để thủy phân protein thức ăn. Đồng thời, một số thức ăn thực vật như đậu tương sống chứa chất kháng enzyme (anti-trypsin) ức chế trypsin của dịch tụy.
- Với tinh bột: Dưới 3 tuần tuổi, enzyme amylaza và maltaza trong dịch tụy và nước bọt có hoạt tính rất thấp (chỉ tiêu hóa được khoảng 50% tinh bột ăn vào). Sữa mẹ vốn không chứa tinh bột nên hệ enzyme tiêu hóa tinh bột chưa được kích thích mạnh trước khi cai sữa.
4. Luận án giải quyết vấn đề sử dụng nguồn nguyên liệu giàu xơ tại địa phương miền núi phía Bắc như thế nào?
Khu vực trung du miền núi phía Bắc có nguồn nguyên liệu dồi dào như cám gạo (chứa 7 - 25% xơ thô do lẫn trấu) và bã sắn thủ công (chứa 16 - 45% xơ thô trong vật chất khô). Mức xơ cao làm tăng độ nhớt, cản trở tiêu hóa và giảm thu nhận thức ăn.
Luận án đã giải quyết vấn đề này bằng cách bổ sung multi-enzyme chứa phức hệ xellulaza (Endo-$\beta$-glucanaza, Exo-$\beta$-glucanaza, $\beta$-glucozidaza) kết hợp amylaza và proteaza vào khẩu phần. Xellulaza ngoại sinh giúp phân giải thành tế bào cellulose của vỏ cám và bã sắn, giải phóng các hợp chất tinh bột, protein bên trong tế bào để các enzyme khác tiếp cận và thủy phân, nâng cao tỷ lệ tiêu hóa xơ thô và dưỡng chất toàn phần, cho phép tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu địa phương mà không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của lợn.
5. Cơ chế tác dụng của hỗn hợp probiotic trong việc phòng ngừa tiêu chảy ở lợn con được luận án chỉ ra gồm những gì?
Hỗn hợp probiotic phòng ngừa tiêu chảy thông qua các cơ chế phối hợp:
- Loại trừ cạnh tranh (competitive exclusion): Vi khuẩn probiotic bám chặt vào thụ quan trên tế bào biểu mô nhung mao ruột, chiếm chỗ và ngăn cản sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh như E. coli, Salmonella.
- Sản sinh chất kháng khuẩn và hạ pH đường ruột: Quá trình lên men của L. acidophilus và L. casei tạo ra lượng lớn axit lactic, axit axetic, hạ thấp pH dịch ruột, tạo môi trường bất lợi làm ức chế vi khuẩn gây bệnh đường ruột.
- Tăng cường miễn dịch đường ruột: Cấu trúc vách tế bào peptidoglycan của vi khuẩn và mannan/glucan của nấm men Saccharomyces cerevisiae kích hoạt đại thực bào, tăng sản sinh kháng thể dịch thể và củng cố liên kết bền vững giữa các tế bào biểu mô ruột.
- Khử độc tố và hỗ trợ tiêu hóa: Probiotic trung hòa độc tố tiêu chảy của vi khuẩn đường ruột và sinh ra các enzyme tiêu hóa ngoại sinh giúp triệt tiêu lượng dưỡng chất dư thừa không bị lên men thối rữa ở manh tràng và ruột già.
Kết luận
Luận án tiến sĩ nông nghiệp của Cù Thị Thuý Nga là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về việc ứng dụng các chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa. Thông qua chuỗi 5 thí nghiệm được thiết kế chặt chẽ, tác giả đã chứng minh hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm multi-enzyme (chứa proteaza, amylaza, xellulaza của hãng Bayer) và hỗn hợp probiotic đa chủng (nhập khẩu từ Mỹ) trong việc nâng cao tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột, chất xơ, giảm thiểu tỷ lệ tiêu chảy và cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp các số liệu sinh lý dinh dưỡng có giá trị khoa học mà còn cung cấp giải pháp thực tiễn giúp khai thác hiệu quả các nguồn thức ăn giàu xơ sẵn có tại vùng trung du miền núi phía Bắc, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường chăn nuôi.