Mở đầu cho thời kỳ cả nước bước vào thế kỷ 21, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã được tổ chức. Đại hội đã tiến hành tổng kết 15 năm đổi mới của đất nước trong bối cảnh toàn nhân loại kết thúc thế kỷ XX và bước sang kỷ nguyên mới. Một trong mười bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới là “Phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…. Nhằm đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một bộ phận quan trọng của sự nghiệp GD&ĐT, cũng như xác định đúng đắn về vị trí GDTC và TDTT trong nhà trường các cấp, Luật Thể dục, thể thao đã khẳng định: Nhà nước có chính sách đất đai, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho GDTC và TDTT trong Nhà trường, đảm bảo đủ giáo viên TDTT cho các bậc học.
9 Bộ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o phối hợp với ngành liên quan xây dựng chương trình GDTC, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, GV TDTT, hướng dẫn nội dung hoạt động TDTT ngoại khoá trong nhà trường phù hợp sở thích, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, phát triển năng khiếu thể thao. Lãnh đạo địa phương có trách nhiệm quy hoạch đất đai, xây dựng CSVC, nhà tập đa năng, đảm bảo trang thiết bị, dụng cụ thể thao, chỉ tiêu biên chế giáo viên, GV. Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định để các trường có điều kiện xây dựng CSVC phục vụ GDTC và thể thao trong nhà trường [63]. Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TW (23/10/2002), ngành TDTT đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạt phát TDTT đến năm 2010 (số 57/2002/QĐ-TTg ngày 28/04/2002) trong đó nêu mục tiêu tất cả các trường học phải thực hiện công tác GDTC.
Cụ thể 95% trường học ở các thành phố, thị xã bảo đảm đủ các tiết học môn thể dục. Chỉ thị 17/CT-TW ra đời ghi dấu sự phát triển mới của nền TDTT Việt Nam, nhiều nội dung của Chỉ thị đã đi vào cuộc sống, có tác động rất lớn đối với sự nghiệp phát triển TDTT nước nhà và hoạt động GDTC nhà trường trong những năm đầu thế kỷ XXI, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội [5]. Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Chỉ thị 17 CT-TW (2002) cũng xác định cần phải “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên”[5].
Tại Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng, một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 2006 – 2010 đã được Đại hội xác định là: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất 10 nước”. Về công tác TDTT Đại hội X tiếp tục chỉ rõ “Đẩy mạnh các hoạt động TDTT cả về quy mô, chất lượng, làm tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học…”[10], [20]. Bộ Luật Thể dục, thể thao đã được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hô ̣i chủ nghiã Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật Thể dục, thể thao đã dành riêng một mục (Mục 2 trong chương II) gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước, Chính phủ và các bộ ngành tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, hoạt động GDTC và thể thao trong trường học nói riêng [63].
Báo cáo chính trị tại Đại hội XI (2011) của Đảng đã khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đât nước. Vì vậy, cần phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [11], [12]. Văn kiện Đại hội XI tiếp tục yêu cầu "phát triển mạnh phong trào TDTT đại chúng" và ưu tiên phát triển những môn thể thao có ưu thế và điều kiện tiến nhanh nhưng cương quyết khắc phục những hiện tương tiêu cực trong thể thao. Thực hiện đường lối chỉ đạo của Đại hội Đảng XI và sau khi xem xét tờ trình của các Bộ liên quan, Chính phủ đã Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011 phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2030” [11].
Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh cho nhân dân, ngày 28/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030 gọi tắt là đề án 641. Nội dung chủ yếu của chương trình này là: 11 Cải thiện và tăng cường điều kiện phục vụ hoạt động TDTT trong trường học, bao gồm: cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện. Chuẩn hóa, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho GDTC đối với các trường thí điểm. Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học (chính khóa và ngoại khóa).
Đảm bảo chất lượng dạy và học thể dục chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cho học sinh; xây dựng chương trình GDTC hợp lý có kết hợp với giáo dục quốc phòng… Xây dựng thích hợp một hệ thống các lớp năng khiếu thể thao ban đầu ở trường học [37]. Ngày 01/12/2011, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết đã chỉ rõ:“GDTC và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả”. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020“phấn đấu 90% học sinh sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể”; Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC và hoạt động thể thao trong trường học, cụ thể: Thể dục thể thao trường học là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, cần được quan tâm đầu tư đúng mức. Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển GDTC và thể thao trường học”.
Thực hiện tốt GDTC theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của HSSV bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của HSSV và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao. 12 Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TDTT trường học” [17, tr. Trong Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 ban hành theo Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 07/3/2012, Chính phủ đã đề ra yêu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC.
Mục 5 của Nghị quyết 06 đã ghi rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục thể chất. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, gắn với việc đổi mới quy chế thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh”[39, tr. Ngày 03/12/2010, Thủ tướng chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 (số 2198/QĐ-TTg), trong Chiến lược đã dành riêng một phần quan trong cho công tác GDTC và thể thao trong nhà trường. Khi đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực.
Các cơ sở giáo dục đào tạo còn thiếu sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ cho nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên; đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu; chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn học sinh tham gia các hoạt động TDTT ngoại khóa” [37, tr. Chiến lược đã đề ra các chỉ tiêu: Số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa đến năm 2015 đạt 100%. Số trường học phổ 13 thông có CLB TDTT, có hệ thống CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ giáo viên và HDV TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa đến năm 2015 đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 – 60% tổng số trường. Số học sinh được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đến năm 2015 đạt 75% và đến năm 2020 đạt 85% - 90% tổng số học sinh phổ thông các cấp [37, tr.
Trên cơ sở đó, Chiến lược đã đề ra 03 giải pháp chủ yếu có tính thiết thực và ưu tiên nhằm phát triển công tác GDTC trong nhà trường: Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa. Phát triển hoạt động TDTT ngoại khóa. Ban hành Nghị định về phát triển GDTC và hoạt động TDTT trường học. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng tiếp tục nhấn mạnh “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước.
Phát triển GD&ĐT cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển.