phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 4 chương: - Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. - Phần 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu. - Phần 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. - Phần 4: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKT giống lúa Séng Cù tại xã Nghĩa Lợi.
e 4 PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Vị trí, vai trò của sản xuất giống lúa Séng Cù trong sự phát triển kinh tế 1. Ý nghĩa của việc sản xuất giống lúa Séng Cù Lúa là cây lương thực chính trong sản xuất nông nghiệp và trong nền kinh tế Việt Nam. Trong những năm gần đây sản lượng lúa xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng và đến năm 2014 sản lượng lúa xuất khẩu đã đứng thứ nhất trên thế giới. Hạt gạo là sản phẩm từ cây lúa được chế biến thành cơm, là món ăn chính và không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam.
Lần đầu tiên Dự án sản xuất giống lúa Séng Cù được triển khai thành công tại xã Bình Lư (huyện Tam Đường). Dự án kết thúc đã góp phần tạo nguồn giống ổn định để nhân dân trong huyện gieo cấy vụ tiếp theo. Dự án sản xuất giống lúa Séng cù được Trung tâm Giống Nông nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với Trung tâm Giống nông lâm nghiệp Lào Cai triển khai từ tháng 1/2012 tại 3 bản Thống Nhất, Thèn Thầu và Tòng Pẳn (xã Bình Lư) trên diện tích 13 ha. Sau đó được nhân rộng ra và giống đến với cánh đồng Mường Lò xã Nghĩa Lợi [10].
Trong đó có 1 ha giống lúa Séng cù dòng siêu nguyên chủng, 5 ha giống lúa Séng cù dòng nguyên chủng, 7 ha dòng xác nhận. 80 hộ tham gia Dự án được hỗ trợ 100% giống, 50% phân bón và thuốc trừ sâu. Séng Cù là loại gạo đặc sản được thị trường người tiêu dùng ưa chuộng. Thời gian qua, do yêu cầu của thị trường đối với gạo Séng Cù rất cao, một số địa phương bà con nông dân đã đưa giống Séng Cù vào trồng đại trà nên nhu cầu giống lúa Séng cù phục vụ sản xuất là rất lớn, nên đã nghiên cứu và cho ra đời giống Séng Cù để phục vụ mọi người.
Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất giống lúa Séng Cù Lúa là cây lương thực chính được trồng ở tất cả các tỉnh trên đất nước ta. Gạo là sản phẩm của lúa cũng là một mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam và năm 2013 lượng lúa xuất khẩu của nước ta đứng đầu thế giới. Lúa được trồng nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy mỗi vùng lại có các yếu tố như đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, và các hiện tượng đặc biệt của thời tiết như giông bão khác nhau.
Sự khác nhau về yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời tiết đặc trưng cho mỗi vùng và cũng chính vì vậy chúng ta cần tìm ra các loại cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai từng vùng. Lúa Séng Cù là loại cây trồng ngắn ngày phù hợp với các vùng nhiệt đới, vì vậy rất phù hợp khi trồng ở nước ta. Thời gian cho thu hoạch của cây rất ngắn và chi phí đầu tư thấp. Lúa Séng Cù có phương pháp trồng tương tự như các giống lúa khác.
Một số vấn đề cơ bản về HQKT 1. Các quan niệm khác nhau về HQKT Với bất cứ ngành sản xuất vật chất nào, sản phẩm hàng hoá dịch vụ được tạo ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào với trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định. Tuy vậy khi bắt tay vào thực tế sản xuất, con người có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào với những công nghệ sản xuất khác nhau. Nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật nguồn lực khan hiếm, trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hoá dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng.
Do vậy đòi hỏi xã hội phải lựa chọn từng cơ sở sản xuất, kinh doanh sao cho với một lượng nguồn lực nhất định để tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao nhất. Đây là mục tiêu của xã hội và của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh [1]. HQKT được bắt nguồn từ sự thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội cũng như khả e 6 năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá trnh tái sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định [4].
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong điều kiện nhu cầu của toàn xã hội về hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên. Vì vậy bắt buộc xã hội phải lựa chọn từng cơ sở sản xuất, kinh doanh sao cho sử dụng một nguồn lực nhất định để tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ tối đa nhất. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội và từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận cho mình các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở một mức độ sản xuất nhất định phải tính toán làm sao để có chi phí vật chất và chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất.
Có như vậy thì lợi nhuận của nhà sản xuất cũng như lợi ích của người lao động và toàn xã hội mới được nâng lên, nguồn lực được tiết kiệm. HQSX là sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn lực [3]. HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao HQKT.
HQKT là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng HQKT và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi nền sản xuất xã hội. Theo quy luật mối liên hệ phổ biến và sự vận động phát triển thì mọi HQKT của các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau và có tác động đến HQKT của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Song HQKT không đơn thuần là một phạm trù sản xuất chỉ đề cập đến sản xuất mà nó còn e 7 gắn liền với ý nghĩa xã hội [2].
Cơ sở của sự phát tiển xã hội chính là sự tăng lên không ngừng của lực lượng vật chất và phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu dùng không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc gia,…. Do đó trong quá trình sản xuất của con người không chỉ đơn thuần quan tâm đến HQKT mà đòi hỏi phải xem xét đánh giá một cách tích cực và hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái tự nhiên xung quanh. Tóm lại HQKT là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái sản xuất xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. HQKT là trong quá trình sản xuất kinh doanh phải biết tiết kiệm và sử dụng tối đa tiềm năng của nguồn lực, tiết kiệm chi phí, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho xã hội.
Tuy vậy kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng cái cần tìm là lợi nhuận. Nhưng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng phát triển tồn tại lâu dài thì cần quan tâm đến vấn đề HQKT, phải tìm mọi biện pháp nâng cao HQKT. Một số loại hiệu quả cơ bản Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả, phản ánh sự thành công hay thất bại của các hoạt động, các sự vật hiện tượng. Hiệu quả được đánh giá trên ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của quá trình sản xuất chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để phục vụ lợi ích của con người. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản xuất xã e 8 hội. Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ không giống nhau. Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, mục đích và yêu cầu của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể được đánh giá theo những góc độ khác nhau.
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các nguồn lực xã hội. Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí bỏ ra. Trên quan điểm toàn diện có ý kiến cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế không thể loại bỏ mục tiêu năng cao trình độ về văn hoá, xã hội và đáp ứng nhu cầu xã hội ngày một tốt hơn cùng với việc tạo ra môi trường bền vững. - Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Các mục tiêu xã hội thường thấy là: giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe, đảm bảo vệ sinh môi trường,.