Đặt vấn đề Từ xa xưa, con người đã biết đã tìm cho mình thức ăn và vị thuốc từ cây cỏ và tập phân biệt các cây độc. Nguyên liệu làm thuốc từ thực vật rất phong phú và đa dạng. Chúng đã được con người nghiên cứu và sử dụng từ xưa đến nay. Trong thời kỳ tân dược chưa phát triển thì đây là nguồn thuốc chữa bệnh chính.
Mặc dù các tiến bộ của hoá học trong thời gian gần đây cho phép phân lập được các hoạt chất ở dạng tinh khiết, tổng hợp hoàn toàn và điều chế các hoạt chất nhân tạo với số lượng lớn là một bước tiến vượt bậc, nhưng các hoạt chất từ cây cỏ vẫn giữ được tầm quan trọng của nó với nhiều lý do khác nhau. Alkaloid là nhóm hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên quan trọng về nhiều mặt. Đặc biệt trong lĩnh vực y học, chúng cung cấp nhiều loại thuốc có giá trị chữa bệnh cao. Do vậy loài người đã biết khai thác và sử dụng chúng, cho đến nay đã phát hiện được hơn 6000 hợp chất alkaloid khác nhau.
Sự phân bố của hợp chất alkaloid trong giới thực vật tương đối rộng rãi, với hơn 4000 loài có chứa loại hợp chất này. Trong cây alkaloid tồn tại ở nhiều bộ phận khác nhau. Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa alkaloid được sử dụng rộng rãi. Theo cuốn "Dược liệu" nhà xuất bản Y học - 1983 thì dược phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lị và ngộ độc thức ăn.
Các nghiên cứu từ trước đến nay trên đối tượng cây Hoàng đằng cho thấy các công dụng mà nó có được là do hợp chất alkaloid palmatin - thành phần hoạt c 2 chất chính trong cây - tạo ra. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hàm lượng alkaloid toàn phần theo palmatin tính trung bình trong nguyên liệu là 1 - 3%. Tuy nhiên chưa thấy những nghiên cứu cụ thể về sự biến động hàm lượng alkaloid trong các bộ phận của cây, đặc biệt là những nghiên cứu trên đối tượng cây Hoàng đằng mọc hoang ở tỉnh Yên Bái khu vực Tây Bắc Bộ là một trong những nơi có sự phân bố cao. Cây Hoàng đằng mọc hoang ở một số vùng trong tỉnh Yên Bái khu vực Tây Bắc Bộ từ lâu đã được nhân dân địa phương sử dụng làm thuốc và làm nguyên liệu nhuộm.
Gần đây hiện tượng thu mua nguyên liệu cây Hoàng đằng để xuất khẩu, chế biến với số lượng lớn diễn ra khá phổ biến. Để tìm hiểu một số đặc điểm thực vật, đánh giá chất lượng alkaloid của cây Hoàng đằng trong điều kiện sinh cảnh ở Yên Bái chúng tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh thái , làm cơ sở đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctria Lour) tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái”. Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu - Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về cây Hoàng đằng - Xác định được thực trạng phân bố của cây Hoàng đằng tại xã Bản Mù huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái - Xác định được đặc điểm sinh vật học và sinh thái học và phân bố của loài Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số biện phát bảo tồn và phát triển cây Hoàng đằng 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp em hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây Hoàng đằng. c 3 - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và cây Hoàng đằng nói riêng. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của loài Hoàng đằng nhằm đề xuất một số giải pháp làm cơ sở giúp chính quyền địa phương người dân định hướng bảo tồn phát triển cho loài cây có giá trị này c 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.
Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Để bảo vệ phát triển các loài động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32/2006/NĐ-CP) [16]. Nghị định quyết định các loài động vật thực vật quý hiếm nghiên cấm và hạn chế vào mục đích thương mại Căn cứ vào Nghị định số 160 ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, 160/2013/NĐ - CP về động thực vật nguy cấp quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ của các quần thể có mức độ bị đe dọa có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường, văn hóa - lịch sử được xếp vào cấp [17] Đối với việc khai thác sử dụng thực vật động vật quý, hiếm phải có biện pháp, giấy phép, phương án khai thác theo Mẫu số 03, Phụ lục II Nghị định này nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá bảo vệ bảo tôn quản lý. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới Hoàng Đằng (danh pháp: Fibraurea tinctoria) là thực vật có hoa thuộc họ tiết dê Ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như Tylophora indica (dùng làm thuốc chữa hen), Zannica indica (thuốc tẩy xổ),… trước kia dễ tìm kiếm, c 5 nay đã trở nên hiếm hoi A. Hoặc là loài Ba gạc - Rauvolfia serpentina vốn mọc tự nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm khai thác được khoảng 1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu - Mỹ, làm thuốc chữa cao huyết áp (riêng Ấn Độ chiếm 40 - 50%). Song, do bị khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho cây thuốc này mau cạn kiệt. Một số bang ở Ấn Độ đã chính thức tạm đình chỉ khai thác loài Ba gạc kể trên O.
de Alwis, và A. Một loài cây thuốc quí khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông - Bắc Ấn Độ, trước kia khai thác hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùng Đông Nam Á, nay đã trở nên rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng O. Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, (1985) [38] ở Trung Quốc vốn có một số loài Dioscorea spp, trữ lượng khá lớn, trong thập kỷ 50, đã từng khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chí phải trồng. Một vài loài cây dân tộc thuốc quý như Fritillaria cirrhosa (làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây - Bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn sót lại ở 1 - 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít.
Hoặc loài Iphigenia indica có tác dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali tỉnh Vân Nam, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng. Một số loại cây thuốc quí khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii,… cũng là những ví dụ điển hình. Sara Oldfield, tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc tế, nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự”. Phần lớn dân số thế giới, trong đó có 80% người châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vào dược thảo để chữa bệnh [37].
Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp xỉ 15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Tình trạng thiếu dược thảo đã xảy ra c 6 ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda hình về sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc P. Có thể nói giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn. Ở Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD.
Ở Trung Quốc, chỉ riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/ năm. Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế giới đã đặt ra một vấn đề cần lưu tâm: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được sử dụng, khai thác từ các cây hoang dại sẵn có nhưng không được trồng lại để bổ sung. Theo một nghiên cứu của nhà thực vật học người Anh là Alan Hamilton, thành viên của Quỹ Thế giới Bảo vệ Thiên Nhiên (viết tắt là WWF), có từ 4.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tiệt chủng. Nguyên nhân không phải hoàn toàn do sự phát triển của Y học cổ truyền mà theo tác giả là do thị trường dược thảo ở Châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng 10% mỗi năm trong vòng 10 năm nay.
Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc hàng năm ước tính lên tới 16 tỷ Euro [32]. Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) năm2003, Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài. Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á. Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa phân bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia [33].
Nghiên cứu ở Việt Nam Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales). Hoàng Đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, Dây vàng giang, Nam hoàng liên.Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour, hay Fibraurea recisa Pierre), c 7 Ở nước ta gặp tại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc).