Hát Hầu Vua trong Lễ Cấp Sắc của Người Dao Lô Gang ở Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay hát hầu vua trong lễ cấp sắc của người dao lô gang ở hợp tiến đồng hỷ thái nguyên, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

131
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp của luận văn

1.7. Bố cục của luận văn

2. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGƢỜI DAO Ở HỢP TIẾN, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

2.1. Vài nét về cộng đồng người Dao

2.2. Cộng đồng người Dao Thái Nguyên

2.3. Cộng đồng người Dao ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

2.4. Một số vấn đề lí luận

2.5. Dân ca và dân ca Dao

2.6. Khái quát về các bài hát trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

2.7. Nguồn gốc các bài hát và hát Hầu Vua

2.8. Các bài hát trong lễ cấp sắc gắn liền với phong tục, tín ngưỡng. Nghi lễ cấp sắc và phương thức diễn xướng các bài hát Hầu Vua

3. NỘI DUNG CÁC BÀI HÁT HẦU VUA TRONG LỄ CẤP SẮC CỦA NGƢỜI DAO LÔ GANG Ở HỢP TIẾN, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN

3.1. Thể hiện tấm lòng thành kính trước tổ tiên và thần linh

3.2. Phác họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng

3.3. Gửi gắm nỗi lòng, tình cảm lứa đôi

3.4. NGHỆ THUẬT CÁC BÀI HÁT HẦU VUA TRONG LỄ CẤP SẮC CỦA NGƢỜI DAO LÔ GANG Ở HỢP TIẾN, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN

3.4.1. Thể thơ thất ngôn

3.4.2. Thể thơ tự do

3.4.3. Nhân vật trữ tình

3.4.4. Thời gian và không gian nghệ thuật

3.4.5. Ngôn ngữ chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hàng ngày

3.4.6. Ngôn ngữ mang bản sắc văn hóa dân tộc Dao

3.4.7. Một số biện pháp tu từ nghệ thuật. Điệp từ ngữ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hát hầu vua trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang

Hát hầu vua là một phần không thể thiếu trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang tại Thái Nguyên. Nghi lễ này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng. Trong lễ cấp sắc, các bài hát hầu vua được trình diễn nhằm cầu nguyện cho sự bình an và thịnh vượng. Những bài hát này thường được thể hiện bởi các nghệ nhân có kinh nghiệm, tạo nên không khí trang trọng và linh thiêng cho buổi lễ.

1.1. Ý nghĩa văn hóa của hát hầu vua trong lễ cấp sắc

Hát hầu vua không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa, tâm linh của người Dao. Những bài hát này thường chứa đựng các yếu tố tâm linh, thể hiện lòng thành kính đối với tổ tiên và thần linh.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của hát hầu vua

Hát hầu vua đã có từ lâu đời trong cộng đồng người Dao Lô Gang. Qua nhiều thế hệ, các bài hát này đã được gìn giữ và phát triển, trở thành một phần quan trọng trong các nghi lễ truyền thống của dân tộc.

II. Vấn đề và thách thức trong việc bảo tồn hát hầu vua

Mặc dù hát hầu vua có giá trị văn hóa lớn, nhưng hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các bài hát này đang gặp nhiều thách thức. Sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai và sự thay đổi trong lối sống của người dân đã khiến nhiều bài hát truyền thống bị mai một. Cần có những biện pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị của hát hầu vua trong cộng đồng.

2.1. Tác động của văn hóa ngoại lai đến hát hầu vua

Văn hóa ngoại lai đang dần xâm nhập vào đời sống của người Dao, làm giảm đi sự quan tâm đến các nghi lễ truyền thống như hát hầu vua. Điều này đòi hỏi cộng đồng cần có những biện pháp bảo tồn hiệu quả.

2.2. Giải pháp bảo tồn hát hầu vua trong cộng đồng

Cần tổ chức các hoạt động truyền dạy và biểu diễn hát hầu vua cho thế hệ trẻ. Việc này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ trong cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu hát hầu vua trong lễ cấp sắc

Nghiên cứu hát hầu vua cần áp dụng các phương pháp đa dạng để thu thập thông tin và tư liệu. Các phương pháp như phỏng vấn, quan sát thực địa và phân tích tài liệu sẽ giúp làm rõ nội dung và nghệ thuật của các bài hát này. Việc nghiên cứu cần được thực hiện một cách hệ thống và có kế hoạch để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.

3.1. Phương pháp phỏng vấn nghệ nhân và người dân

Phỏng vấn các nghệ nhân và người dân địa phương sẽ cung cấp thông tin quý giá về nội dung và ý nghĩa của các bài hát hầu vua. Đây là cách tiếp cận trực tiếp và hiệu quả để hiểu rõ hơn về văn hóa địa phương.

3.2. Phân tích nội dung và nghệ thuật của các bài hát

Phân tích các bài hát hầu vua sẽ giúp làm rõ các yếu tố nghệ thuật, từ ngôn ngữ đến hình thức biểu diễn. Việc này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn nâng cao giá trị nghệ thuật của các bài hát.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hát hầu vua

Kết quả nghiên cứu về hát hầu vua có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục đến du lịch văn hóa. Việc đưa các bài hát này vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa dân tộc. Đồng thời, các hoạt động du lịch văn hóa có thể được tổ chức để giới thiệu nét đẹp của hát hầu vua đến với du khách.

4.1. Giáo dục văn hóa qua hát hầu vua

Việc đưa hát hầu vua vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh nhận thức được giá trị văn hóa của dân tộc. Điều này cũng góp phần nâng cao ý thức bảo tồn văn hóa trong cộng đồng.

4.2. Phát triển du lịch văn hóa gắn với hát hầu vua

Du lịch văn hóa có thể khai thác các nghi lễ hát hầu vua như một sản phẩm du lịch độc đáo. Điều này không chỉ giúp phát triển kinh tế địa phương mà còn bảo tồn văn hóa truyền thống.

V. Kết luận và tương lai của hát hầu vua trong lễ cấp sắc

Hát hầu vua là một phần quan trọng trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang, mang giá trị văn hóa và tâm linh sâu sắc. Việc bảo tồn và phát huy các bài hát này là cần thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tương lai của hát hầu vua phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của cộng đồng trong việc gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn hát hầu vua

Bảo tồn hát hầu vua không chỉ là bảo vệ di sản văn hóa mà còn là giữ gìn bản sắc dân tộc. Điều này cần sự chung tay của cả cộng đồng.

5.2. Triển vọng phát triển hát hầu vua trong tương lai

Với sự quan tâm đúng mức, hát hầu vua có thể trở thành một phần quan trọng trong các hoạt động văn hóa, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc trong xã hội hiện đại.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về lịch sử, xã hội, văn hóa của người Dao ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên và một số vấn đề lí luận Chương 2: Nội dung các bài hát Hầu Vua trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên Chương 3: Nghệ thuật các bài hát Hầu Vua trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGƢỜI DAO Ở HỢP TIẾN, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1.Vài nét về cộng đồng ngƣời Dao 1. Cộng đồng ngƣời Dao Thái Nguyên Thái Nguyên là vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời với nhiều danh lam thắng cảnh và là điểm giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu. Trên địa bàn tỉnh Thái nguyên đồng bào Dao cư trú tập trung và rải rác ở một số huyện và chủ yếu là các nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt và Dao Lô Gang.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, có 21.818 người Dao cư trú trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (chiếm 2,08% dân số toàn tỉnh). Trong số các dân tộc đang sinh sống trên địa phận tỉnh Thái Nguyên, dân tộc Dao đứng ở vị trí thứ 6 và phân bố rải rác khắp nơi trong tỉnh. Trong đó, huyện Đại Từ là nơi sinh sống chủ yếu của nhóm Dao Quần Chẹt, huyện Phú Lương và Đồng Hỷ là nơi tập trung sinh sống của nhóm Dao Đỏ và huyện Võ Nhai là nơi cư trú chủ yếu của nhóm Dao Lô Gang. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có hai là xã Tân Thành thuộc huyện Đại Từ và xã Hợp Tiến thuộc huyện Đồng Hỷ tập trung trên 60% đồng bào dân tộc Dao sinh sống.

Bên cạnh đó, người Dao còn cư trú ở một số huyện như: Phổ Yên, Định Hóa… Tuy nhiên, các nhóm Dao không có nhiều điểm khác biệt lớn trong văn hóa cổ truyền của dân tộc Dao nói chung, các điểm khác biệt tùy vào đặc trưng của từng địa phương nhưng đại thể không nhiều. Họ chủ yếu sống xen kẽ với nhiều dân tộc như: Hmông, Tày, Nùng, Mường… Người Dao còn có nhiều các tên gọi khác là: Mán, Đông, Dìu Miền, Kiềm Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu. nhưng Dao là tên gọi chính thức và được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, tên Mán vẫn được nhiều dân tộc sử dụng dùng để chỉ người Dao“Tên “Mán” bắt nguồn từ âm Man (âm Hán Việt), là tên gọi phiếm xưng có ý nghĩa miệt thị dân tộc vì phong kiến Trung Quốc xưa kia dùng để chỉ các dân tộc người “nhỏ bé”, sinh sống ngoài địa bàn cư trú của người Hán.

Tên gọi Kiềm Miền (Kiềm nghĩa là rừng, Miền nghĩa là người)… Tên gọi nữa của đồng bào Dao là Dìu Miền, âm Hán Việt: Dìu là Dao, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Miền là người; có nghĩa là “người Dao”. Tên gọi Dao được nhắc nhiều trong truyện truyền miệng, truyện cổ, các tài liệu cổ như “Quá sơn bảng văn” của người Dao…” [6, tr. Ngoài tên gọi “Dao” thì những tên gọi khác chỉ sử dụng trong một số địa phương nhất định và có tính “kì thị dân tộc”. Từ xưa đến nay, trong cộng đồng vẫn lưu truyền lại truyền thuyết liên quan đến nguồn gốc của người Dao “ Bàn Hồ là con long khuyển cao lớn, lông đen vằn vàng, từ trên trời giáng xuống trần, được Bình Hoàng yêu quý nuôi trong cung.

Lúc bấy giờ vua nước láng giềng là Cao Vương âm mưu mang quân xâm lấn. Bình Hoàng liền họp bá quan văn võ để bàn mưu kháng cự. Trong khi không ai tìm được kế gì thì con long khuyển xung phong xin đi đánh Cao Vương. Nhà vua hẹn nếu Bàn Hồ chiến thắng trở về sẽ gả cung nữ cho.

Bàn Hồ bơi qua biển 7 ngày, 7 đêm thì tới cung điện của Cao Vương. Cao Vương thấy con long khuyển đẹp cho đó là điềm lành bèn sai đem vào cung nuôi. Nhân một hôm Cao Vương ngủ say, Bàn Hồ cắn chết Cao Vương rồi vượt biển trở về báo công với Bình Hoàng. Bàn Hồ được phong là Bàn Vương và lấy được cung nữ đem vào núi Cối Kê (Chiết Giang) ở và sau đó sinh 6 con trai và 6 con gái.

Bình Hoàng ban sắc cho con cháu Bàn Vương thành 12 họ, người con cả lấy họ Bàn, các con thứ mỗi người lấy một họ: Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu. Đời này qua đời khác, on cháu Bàn Vương phát triển ngày một đông. Đến khi không còn đất sinh sống, nhà vua phải sắc cấp “Quá sơn bảng” để phân tán con cháu Bàn Vương đi các nơi kiếm ăn” [6, tr. Căn cứ vào truyền thuyết thì Bàn Hồ chính là ông Tổ của người Dao được thờ cúng trong cộng đồng người Dao.

Bên cạnh đó cho thấy, sự xuất hiện các nhóm Dao ở Việt Nam chủ yếu theo con đường di cư từ Trung Quốc sang. Cộng đồng ngƣời Dao ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 1. Điều kiện về mặt tự nhiên Tổng diện tích của xã Hợp Tiến là 48 km2 với tổng số dân là 5.665 người (mật độ 118 người/ km2), theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999- 2003. Đây là một xã miền núi, nằm tận cùng phía đông và nam huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm huyện 30 km, phân chia thành 10 xóm đó là: Đèo Hanh, Cao Phong, Mỏ Sắt, Bãi Bông, Suối Khách, Hữu Nghị, Đồng Trinh, Đoàn Kết, Đèo Bụt, Bãi Vàng.

Trên địa phận xã Hợp Tiến có tuyến đường sắt Kép - Lưu Xá đi qua 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa bàn của xã và 2,7 km đường nhựa đi sang xã Tân Thành thuộc huyện Phú Bình. Ngoài ra, còn có tuyến đường tỉnh lộ 259 chạy thông sang tỉnh bắc Giang. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, năm 1957 xã Mỏ Sắt thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang sáp nhập về huyện Đồng Hỷ, sau đó đổi tên thành xã Hợp Tiến. Phía bắc xã Hợp Tiến giáp với xã Liên Minh nằm trong địa phận của huyện Võ Nhai, phía đông giáp với hai xã Xuân Lương và Tam Tiến nằm trên địa phận của huyện Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang, phía nam giáp với hai xã Tân Thành và Tân Kim của huyện Phú Bình, về phía tây giáp với xã Tân Lợi và một phần xã Cây Thị cùng huyện Đồng Hỷ.

Hợp Tiến là xã tiếp giáp với huyện Võ Nhai, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Giang đây là điều kiện thuận lợi để lưu thông và trao đổi hàng hóa đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, dịch vụ và du lịch. Hợp Tiến là một xã có địa hình phức tạp, nhiều đồi núi và suối xen kẽ, cho nên giao thông di chuyển tương đối khó khăn. Đây là một xã tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số và dân tộc cư trú chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao. Vì là một xã miền núi còn nhiều khó khăn cho nên Đảng và Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ và ưu tiên cụ thể và thiết thực như đầu tư hệ thống nước sạch cho nhân dân trong xã, hỗ trợ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn thông qua chương trình 134, 135 của Chính phủ, khích lệ và động viên, tạo điều kiện cho con em dân tộc được học tập trong môi trường chuyên nghiệp.

Khí hậu nơi đây mang đặc trưng của khí hậu vùng miền núi phía Bắc đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp trong toàn xã. Đất đai xã Hợp Tiến chia ra làm hai loại chính là đất đồi núi chủ yếu trồng chè, cây lâm nghiệp, cây ăn quả, còn đất ruộng, đất màu chủ yếu để trồng cây hoa màu và cây lương thực. Các hồ chứa nước và hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa phục vụ cho việc tươi tiêu. Diện tích rừng của xã Hợp Tiến là 3747 ha (Theo số liệu thống kê 2010).

Trong những năm gần đây, Hợp Tiến đã có những bước phát triển vượt bậc, nhưng nhìn chung do đặc thù của một xã miền núi cho nên người dân ở đây vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Hợp Tiến là một xã miền núi vùng sâu, nơi đây có bảy dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Dao chiếm 70%. Năm 2006 xã Hợp Tiến đã có đường nhựa về đến xã. Đó là một trong những niềm vui lớn của nhân dân trong xã.

Tuy nhiên, do đời sống nhân dân còn thấp, đường xã đi lại khó khăn cho 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên hầu hết các con đường vào thôn bản vẫn đều là đường đất, đường mòn, men theo đồi, men theo núi. Con đường đất vào xóm Đèo Bụt và xóm Mỏ Sắt của xã Hợp Tiến vào những ngày mưa lũ bùn đất lầy lội, khiến cho việc đi lại của nhân dân gặp không ít những khó khăn và vất vả. Hiện nay, nhờ có sự đầu tư của Nhà nước và phong trào làm đường dân sinh, hệ thống đường bản đã được cải thiện và nâng cấp rõ rệt. Nhân dân trong xã chủ yếu quan tâm đến phát triển đồi rừng, cây ăn quả, trồng cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi gia cầm, gia súc.

Đặc điểm xã hội, văn hóa * Xã hội Thái Nguyên là một tỉnh tập trung nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Hiện nay, trên địa bàn xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có đại bộ phận là đồng bào dân tộc Dao cư trú, chủ yếu là nhóm Dao Lô Gang. Người Dao Lô Gang còn chủ yếu tập trung ở một số xã trên địa bàn huyện Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên. Một số người dân địa phương cho biết cái tên “Lô Gang” hay “Lù Gang” trong ngôn ngữ Dao mang ý nghĩa là “sang sau”, điều này nhằm nói đến thời gian di cư đặt chân đến Việt Nam của ngành Dao này.

Theo một số tư liệu ghi nhận được “Mới chừng 100 năm trước, người Dao Lô Gang từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam theo ngả Lạng Sơn, Quảng Ninh, sau đó có nhóm đi sâu vào Thái Nguyên. Họ còn giữ khá nguyên vẹn văn hóa của tổ tiên mình. Hiện nay, người Dao Lô Gang ở Thái Nguyên vẫn duy trì bốn cái tết quan trọng trong năm là Tết năm mới, Tết thanh minh, Tết rằm tháng Bảy, Tết Niên niên vào dịp cuối năm. Các dòng họ còn cúng Tết vào mùa dịp tháng Tư” [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ