CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm về thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đến nay thực phẩm bảo vệ sức khỏe (TPBVSK) hay thực phẩm chức năng (TPCN) vẫn chưa có một khái niệm hay một tên gọi thống nhất trên toàn cầu. Thuật ngữ “thực phẩm chức năng” được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1993 tại Nhật Bản, trên tạp chí tin tức Nature với tiêu đề “Nhật Bản khám phá ranh giới giữa thực phẩm và thuốc” [5]. Sau Nhật Bản, khái niệm thực phẩm chức năng được chấp nhận ở Mỹ, Canada, Châu Âu và các nơi khác trên thế giới [6].
Một số khái niệm cho TPBVSK được đưa ra: Hội đồng Thông tin Thực phẩm Quốc tế (IFIC) định nghĩa TPBVSK là thực phẩm chứa các thành phần có hoạt tính sinh lý mang lại lợi ích sức khỏe ngoài dinh dưỡng cơ bản [7]. Theo Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA), TPBVSK được định nghĩa là thực phẩm được tiêu thụ để cải thiện chế độ ăn tiêu chuẩn [8]. Tuy nhiên khoa học TPBVSK ở Châu Âu lại coi một sản phẩm là TPBVSK nếu nó được chứng minh một cách rõ ràng là ảnh hưởng có lợi đến một hoặc nhiều chức năng trong cơ thể, ngoài tác dụng dinh dưỡng, có thể liên quan đến cải thiện tình trạng sức khỏe và/hoặc giảm nguy cơ bệnh tật [10]. Bộ Y Tế Canada đưa ra định nghĩa cho TPBVSK : “Hình thức tương tự như thực phẩm thông thường, được sử dụng như một phần của chế độ ăn uống thông thường, với các lợi ích sinh lý đã được chứng minh và/ hoặc để giảm nguy cơ mắc bệnh mãn tính ngoài các chức năng dinh dưỡng cơ bản” [10].
Theo Bộ Y Tế Việt Nam, TPBVSK là những sản phẩm được dùng để bổ sung thêm vào chế độ ăn uống hàng ngày với mục đích nhằm duy trì, tăng cường, cải thiện các chức năng của cơ thể con người, giảm nguy cơ mắc bệnh. TPBVSK chứa một hoặc nhiều chất hoặc hỗn hợp các chất sau: - Vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, enzyme, probiotic và chất có hoạt tính sinh học khác; - Chất có nguồn gốc tự nhiên, bao gồm động vật, khoáng vật và thực vật dưới dạng chiết xuất, phân lập, cô đặc và chuyển hóa; - Các nguồn tổng hợp của những thành phần đề cập tại hai điểm trên. TPBVSK được trình bày ở dạng chế biến như viên nang và được phân liều (để sử dụng) thành các đơn vị liều nhỏ [1]. 3 Trong nghiên cứu này khái niệm TPBVSK được dùng chung cho TPCN và TPBVSK để thống nhất.
Tổng quan thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi tiêu dùng thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Kiến thức về TPBVSK Tác giả Akhter Ali cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 07 năm 2017 tới tháng 9 năm 2017 trên 400 người dân ở bốn tỉnh tại Pakistan và đưa ra đánh giá rằng phần lớn người dân Pakistan không nắm được thông tin và kiến thức về TPBVSK. Trong tổng số người dân được hỏi chỉ có 20% biết tới TPBVSK, 15% có ít kiến thức về TPBVSK, 32% không biết về TPBVSK và 33% chưa bao giờ nghe tới TPBVSK [11]. Tác giả Siti Afina cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 06 năm 2017 trên 204 sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Borgor và đưa ra đánh giá rằng kiến thức của sinh viên đối với TPBVSK còn thấp.
Về kiến thức chung, trên 50% sinh viên chỉ trả lời đúng tối đa 6/15 câu hỏi, điểm trung bình được tính ra là 46,5 (0 – 93). Về kiến thức chủ quan, 57,8% sinh viên tự nhận rằng bản thân rất thiếu hiểu biết về TPBVSK, điểm trung bình kiến thức chủ quan chỉ đạt 32,2 (0 – 83,3) [2]. Tác giả Romy Chammas cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2015 trên 251 người trưởng thành từ 18 tuổi sống ở Lebanon. Kết quả cho thấy 40,6% có hiểu biết về TPBVSK và 32,7% có hiểu biết về thành phần chức năng.
Mức nhận thức của người trưởng thành tham gia khảo sát tại Lebanon được tác giả đánh giá là tốt hơn so với các nước đang phát triển tại cùng thời điểm [12]. Thái độ đối với TP BVSK Tác giả Siti Afina cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 06 năm 2017 trên 204 sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Borgor về thái độ của sinh viên đối với TPBVSK. Thái độ của sinh viên Bogor được tác giả đánh giá trên hai khía cạnh quan trọng nhất là “sự cần thiết” và “cảm giác an toàn”. Tổng quan trung bình các khía cạnh khảo sát thái độ của sinh viên là 68,3 ± 7,6 (40 – 89), đạt mức trung bình [2].
Tác giả Pavol Mazalan cùng cộng sự đã thu thập số liệu trên 1373 hộ gia đình vào năm 2020, người trả lời bao gồm những người từ 18 – 92 tuổi đang sống tại Slovakia. Tác giả đã đưa ra đánh giá rằng các gia đình tại Slovakia vẫn chưa tin tưởng vào các loại TPBVSK và không quan tâm nhiều đến việc mua chúng. Hai yếu tố “tôi 4 không quan tâm đến việc mua những thực phẩm này” và “tôi không tin tưởng vào những thực phẩm này” là hai yếu tố có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa là 5% [13]. Trong một nghiên cứu khác của tác giả Nina Urala cùng cộng sự được công bố vào năm 2003, số liệu được thu thập trên 958 người sống tại Phần Lan.
Kết quả cho thấy người Phần Lan có thái độ khá tích cực đối với TPBVSK. Chỉ có 4% người được hỏi nói rằng họ không sử dụng TPBVSK. Khi hỏi về sự tin tưởng đối với TPBVSK, 58% người được hỏi tin tưởng vào các nguồn thông tin về TPBVSK, 28% trung lập và 13% hoàn toàn không tin tưởng [14]. Hành vi tiêu dùng TPBVSK Tác giả Siti Afina cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 06 năm 2017 trên 204 sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Borgor và đưa ra đánh giá về hành vi tiêu dùng rằng tần suất tiêu thụ TPBVSK của họ ở mức vừa phải.
Đa số sinh viên được hỏi đều tiêu dùng TPBVSK (98%) từ 3 loại trở lên. Tần suất tiêu thụ của sinh viên Bogor từ 8 – 96 lần trong vòng một tháng [2]. Tác giả Eva Landstrom cùng cộng sự đã thu thập số liệu vào năm 2008 trên 972 người tại Thụy Điển về việc sử dụng TPBVSK và cho thấy hành vi tích cực của họ đối với việc tiêu dùng TPBVSK. Hầu hết những người được hỏi đều đã từng sử dụng ít nhất một trong các TPBVSK được liệt kê (83%), 15% người được hỏi nói rằng họ sử dụng một số TPBVSK khác với các sản phẩm được liệt kê.
Có tới 83 – 100% những người được hỏi cho rằng họ sẽ cân nhắc mua/mua lại sản phẩm [15]. Tại Việt Nam Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thuận về nhận thức, thái độ, hành vi tiêu dùng TPBVSK của người dân thành phố Tây Ninh năm 2015: - Kiến thức về TPBVSK Tác giả Nguyễn Thanh Thuận đã thực hiện nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi tiêu dùng TPBVSK của người dân tại thành phố Tây Ninh vào năm 2015. Thời gian thu số liệu diễn ra từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2015 với cỡ mẫu là 120 người. Kết quả cho thấy nhận thức của hầu hết những người được hỏi đều đúng về TPBVSK khi cho rằng một số loại TPBVSK làm giảm rủi ro mắc bệnh, bổ sung thêm thành phần có lợi cho sức khỏe nhưng ăn uống vẫn là cách tốt nhất để tăng cường sức khỏe hơn là sử dụng các sản phẩm TPBVSK thay thế.
Cụ thể, 60% đồng ý rằng “một vài loại thực phẩm có những lợi ích chuyên biệt giúp giảm rủi ro gặp phải các bệnh mãn tính”, 57,5% đồng ý rằng “TPCN bao gồm những loại thực phẩm mà bản thân nó chứa hoặc được tăng cường/bổ sung thêm thành phần để mang lại lợi ích nào đó 5 cho sức khỏe”, 61,7% đồng ý rằng “những loại thực phẩm được gọi là TPCN khi những loại thực phẩm có ghi rõ lợi ích và sức khỏe trên nhãn”, 80,8% đồng ý rằng “ăn uống là cách thức tốt hơn để thu nhận các chất tăng cường sức khỏe hơn là sử dụng các chất thay thế như vitamin”, 62,5% đồng ý rằng “TPCN không nên thay thế chế độ ăn uống có lợi cho sức khỏe nhưng nên tiêu dùng như một phần trong chế độ ăn uống đa dạng” [4]. -Thái độ đối với TPBVSK Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thuận cũng cho thấy thái độ của người tiêu dùng tại Tây Ninh rất tích cực; 70,84% đồng ý với việc sử dụng TPBVSK sẽ có lợi cho sức khỏe của họ. Niềm tin của họ về TPBVSK ở mức độ đồng ý với quan điểm các loại thực phẩm giúp giảm nguy cơ mắc bệnh nên được dùng thường xuyên. Ngoài ra họ cũng cho rằng TPBVSK mang lại lợi ích cho sức khỏe thì bán với giá cao hơn cũng vẫn chấp nhận được, cụ thể có 60,8% người được hỏi đồng ý với ý kiến “Thực phẩm có bổ sung các thành phần có lợi cho sức khỏe cần phải bán đắt hơn các loại bình thường” [4].
-Hành vi tiêu dùng TPBVSK Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thuận đã đề cập ở trên, về hành vi tiêu dùng TPBVSK, số người được hỏi phần lớn đều chú trọng về hình thức đóng gói, nhãn hiệu, giá sản phẩm và sự tiện dụng của sản phẩm, còn về độ an toàn hay thành phần hàm lượng lại ít được quan tâm. Về chi phí mua TPBVSK, kết quả cho thấy mức chi phí của nữ là cao hơn nam và có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn trong địa bàn Tây Ninh [4]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến cùng cộng sự về phân tích hành vi mua TPCN của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2021: Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến cùng cộng sự đã thu thập số liệu từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019 trên 506 người sống tại thành phố Hồ Chí Minh để phân tích tình hình sử dụng TPBVSK tại thành phố [16]. Nghiên cứu đã chỉ ra được thái độ, kiến thức, niềm tin và giá cả tác động tới sự chấp nhận TPBVSK của người dùng.
Bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, tác giả đưa ra đánh giá rằng niềm tin đối với TPBVSK có tác động mạnh mẽ nhất tới hành vi mua. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra một số thông tin khác về hành vi tiêu dùng TPBVSK của người dân thành phố Hồ Chí Minh.