Chương 1. Cơ sở lý luận va tổng quan nghiên cứu. Khái niệm thương mại điện tử. Theo Trần Công Nghiệp (2008), cho đến hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại điện tử.
Các định nghĩa này xem xét theo các quan điểm, khía cạnh khác nhau. Theo quan điểm truyền thông, thương mại điện tử là khả năng phân phối sản phẩm, dịch vụ, thông tin hoặc thanh toán thông qua một mạng ví dụ Internet hay world wide web. Theo quan điểm giao tiếp, thương mại điện tử liên quan đến nhiều hình thức trao đối thông tin giữa doanh nghiệp với nhau, giữa khách hàng với doanh nghiệp và giữa khách hàng với khách hàng. Theo quan điểm quá trình kinh doanh: thương mại điện tử bao gồm các hoạt động được hỗ trợ trực tiếp bởi liên kết mạng.
Theo quan điểm môi trường kinh doanh: thương mại điện tử là một môi trường cho phép có thể mua bán các sản phẩm, dịch vụ và thông tin trên Internet. Sản phẩm có thê hữu hình hay vô hình. Theo quan diém cấu trúc: thương mại điện tử liên quan đến các phương tiện thông tin dé truyền: văn bản, trang web, điện thoại Internet, video Internet. Khái niệm mua sam trực tuyên.
Mua sắm trực tuyến là một trong những hình thức của TMĐT, ngày càng trở nên quan trọng trong phát trién TMĐT B2C từ cuối thế kỷ XX. Mua sắm trực tuyến được định nghĩa là dịch vụ mà người tiêu dùng sử dụng các thiết bị điện tử có kết nối Internet đề giao dich mua sắm theo ý kiến của Turban và cộng sự (2006). Những giao 13 dịch trực tuyến bao gồm những hành vi như tìm kiếm thông tin, đặt hàng, thanh toán trên Internet. Bên cạnh đó, mua sắm trực tuyến bao gồm quá trình thay đổi xã hội trên diện rộng hon, thị trường có đặc điểm toàn cầu hóa, sự chuyền dịch của nền kinh tế hiện nay dựa trên nền tang tri thức, thông tin, và công nghệ trong cuộc sống thường ngày.
Một số doanh nghiệp đã tận dụng được các ưu thế của hình thức bán hàng trực tuyến thay vì bán hàng truyền thống như là giảm chỉ phí giao dịch, tìm kiếm, phát triên thị trường rộng lớn hon, va giảm khoảng cách giữa người mua và người bán. Sự khác nhau giữa mua sam trực tuyên và mua sam truyền thông. Theo các tác giả Comegys và cộng sự (2006); Darley va cộng sự (2010); Yörik và cộng sự (2011), phương thức mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống cũng có những điểm giống nhau khi cùng trải qua quá trình mua sắm năm bước bao gồm: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin về sản pham, đánh giá các phương án thay thé, quyết định mua và đánh giá sau mua. Tuy nhiên, hai hình phương thức mua sắm này có một số điểm khác biệt.
Thứ nhất, đó là sự khác biệt về “các điều kiện kỹ thuật để mua sắm”. Trong mua sắm truyền thống, khách hàng chỉ có khả năng di chuyên đến điểm bán hàng (cửa hàng, chợ, siêu thi.) là có thé thực hiện được hoạt động mua sắm theo ý kiến của Nguyễn Thành Độ & Hà Ngọc Thắng (2014). Trong mua sắm trực tuyến, khách hàng không cần di chuyền đến các điểm bán hàng mà vẫn có thể thực hiện được các hoạt động trao đổi mua bán. Tuy nhiên, khách hang cần phải có máy tính hoặc các thiết bị di động có kết nối Internet theo Nguyễn Thành Độ & Hà Ngọc Thắng (2014); Tran Văn Hoe (2008).
Thứ hai, một số nhà bán lẻ trực tuyến không chấp nhận hình thức thanh toán tiền mặt (thanh toán khi nhận hàng - COD), dé thực hiện giao dịch, khách hàng bắt buộc phải có tài khoản ngân hàng hoặc phải thanh toán qua bên thứ ba theo ý kiến của Nguyễn Thành Độ & Hà Ngọc Thắng (2014). Thứ ba, yếu tố tiếp xúc trực tiếp với sản phâm là điểm khác biệt lớn nhất giữa phương thức mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống. Khách hàng khi mua sắm 14 trực tuyến chỉ có thể nhìn hình anh sản phẩm trên mạng mà không thé chắc chắn sản phẩm thực tế có giống như vậy hay không, và khi sản phẩm được chuyên đến có còn được nguyên vẹn hay không. Từ đó nảy sinh các rủi ro trong quá trình giao dịch trực tuyến, nhất là khi trong thực tế có không ít trường hợp lừa đảo.
Đồng thời, việc thanh toán và nhận hàng trực tiếp sẽ an toàn hơn là thanh toán trực tuyến. Thứ tư, là sự khác biệt về khả năng truy cập số điểm bán hàng tại mọi thời điểm giữa hai phương thức mua sắm theo ý kiến của Nguyễn Thành Độ & Hà Ngọc Thắng (2014).1: Sự khác nhau giữa mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống STT | Tiến trình mua Mua sắm trực tuyến Mua sắm truyền thống Thu nhận thông tin | Trang web, catalogue trực Tap chi, to roi, catalogue giấy. Mô ta hang hóa Cac mau biéu dién tu, email. | Thu va cac mau biéu 1n trên giây.
cung ứng và thỏa thuận giá. Tạo đơn hàng Đơn hàng điện tử Đơn hàng trên giấy Trao déi thông tin | Email Kiêm hàng tại kho | Các mâu biêu điện tử, email | Các mẫu biêu m sẵn, fax Chuyên hang trực tuyến, Phương tiện vận tải. 9 [me | Chứng từ điện tử Chứng từ in trên giấy Thanh toán Tiền điện tử, giao dịch ngân | Cheque, hối phiếu, tiền hàng, số hóa. mặt, thanh toán qua ngân hàng.
Nguồn: Tran Văn Hoe (2007) 1. Các hình thức giao dich trong thương mai điện tử. Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm : Chính phủ (G - Government), Doanh nghiệp (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer) và được chia làm 9 hình thức theo đối tượng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C theo Nguyễn Việt Liên Hương (2020) Bang 1.2: Hình thức giao dịch trong thương mại điện tử man nan 16 Ở Việt Nam, các hình thức thương mại điện tử phô biến là: B2B, B2C, C2C và B2G. Mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2B là thuật ngữ viết tắt của Business to Business - Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp với nhau.
Mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2C viết tắt của Business to Customer là hình thức kinh doanh từ doanh nghiệp đến khách hàng. Các hình thức giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ trở nên đơn giản hơn khi có kết nối mạng Internet, như sử dụng trình duyệt - web browser để tìm kiếm sản phẩm trên Internet và thực hiện thanh toán bằng điện tử. Mô hình kinh doanh thương mại điện tử C2C viết tắt của Customer to Customer, là hình thức kinh doanh người mua và người bán đều là cá nhân. Mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2G viết tắt của Business to Government là hình thức kinh doanh từ doanh nghiệp đến chính phủ.
Các giao dịch này gồm khai hải quan, nộp thuế, báo cáo tài chính và nhận các văn bản pháp quy theo Nguyễn Việt Liên Hương (2020) 1. Website bán hàng trực tuyến. Website bán hàng trực tuyến hay website thương mại điện tử được hiểu là trang thông tin điện tử được thiết lập dé phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bay giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng. theo Nghị định 52/2003/NĐ-CP về thương mại điện tử (2003).
Thiết kế website bán hàng trực tuyến giúp các cửa hàng, doanh nghiệp có thê chủ động xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu, đồng thời tiết kiệm được rất nhiều chi phí thuê mặt bang hay nhân viên phục vụ. Thiết kế website bán hàng rõ ràng giúp việc bán hàng trở nên nhanh chóng và thuận tiện hơn khi có đầy đủ thông tin mô tả, hình ảnh sản phẩm, giá cả.đến các khâu thanh toán, giao hàng và chăm sóc, hỗ trợ khách hàng các cửa hàng, đồng thời với website bán hàng còn giúp các doanh nghiệp có thê lưu lại thông tin khách hàng phục vụ cho hoạt động Remarketing trở nên hiệu quả hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến. Giá cả Giá là hình thức biểu hiện bang tiền của giá trị hàng hóa.
Giá được ấn định theo chi phí tạo ra sản phẩm, theo giá của đối thủ cạnh tranh hoặc theo những chiến lược marketing mà doanh nghiệp theo đuôi (Vũ & cộng sự, 2018). Những nhà bán lẻ trực tuyến mới thường sẽ dùng giá như chiến lược chủ yếu đề hấp dẫn người mua trực tuyến mua sản phẩm hoặc dịch vụ của họ (Keegan & Green, 2013). Giá thấp là một trong những yếu tố tác động chính tới hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên (Jadhav & Khanna, 2016). Sự tin tưởng.
Sự tin tưởng là một tiền đề quan trọng của việc tham gia vào các quy trình kinh doanh nói chung (Reichheld & Schefter, 2000). Có khá nhiều nghiên cứu khác nhau đề xuất các định nghĩa khác nhau về sự tin tưởng. Theo Madhok (1995), sự tin tưởng được định nghĩa là nhận thức của một bên về khả năng bên còn lại sẽ không hành động vì lợi ích riêng của bản thân bên đó. Niềm tin của sinh viên vào mua sắm trực tuyến có thê được hiểu là sự tin tưởng vào một đối tượng cụ thể, chăng hạn như sự tin tưởng vào thương mại điện tử hoặc sự tin tưởng vào nhà cung cấp trực tuyến hay sự tin tưởng vào một sản phâm của nhà cung cap đó.
Tính đáp ứng của trang web. Ở khóa luận này, tính đáp ứng của trang web được xem xét dưới góc độ bao gồm cả nội dung, hình ảnh và chính sách của trang mua sắm trực tuyến. Website chính là công cụ hỗ trợ trung gian hữu hiệu giữa người mua và người bán. Trong bối cảnh mua sắm trực tuyến, do người tiêu dùng thực hiện mọi thao tác trực tiếp trên trang web mua sắm, việc thiết kế giao diện và nội dung của trang web trở nên tôi quan trọng đối với các nhà cung cấp (Chen & Dibb, 2010).
Trang web có nội dung hấp dẫn và ân tượng sẽ thúc đây sinh viên mua săm trực tuyên. Nhận thức lợi ích Nhận thức lợi ích của thương mại trực tuyến bao hàm sự tiện lợi, sự lựa chọn sản phẩm và dịch vụ, thông tin phong phú. Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian là những lý do chính mà thúc đây người tiêu dùng mua sắm trực tuyến. Nazir và cộng sự (2012) đã chứng minh sự tìm kiếm sản phẩm và dịch vụ thông qua internet sẽ nhanh chóng và chi phí thấp hơn nhiều.