Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận nhằm tránh báo cáo lỗ hoặc giảm lợi nhuận. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý và đề xuất từ kết quả nghiên cứu 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trƣớ đây Quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại ngƣỡng lợi nhuận đã tạo ra những nghiên cứu đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt ở Mỹ. Hayn [31] đã ghi nhận rằng có một điểm không liên tục của lợi nhuận về ngƣỡng 0.
Cụ thể, có một số trƣờng hợp lợi nhuận mặc dù dƣơng nhƣng nó tập trung ngay trên ngƣỡng 0 (lợi nhuận chỉ lớn hơn 0 một ít), trong khi có ít trƣờng hợp hơn dự kiến lợi nhuận ở dƣới mức ngay dƣới 0 (tổn thất nhỏ). Những kết Luan van 5 quả này cho thấy các doanh nghiệp có lợi nhuận dự kiến sẽ giảm ngay dƣới mức 0 sẽ có hành vi quản trị lợi nhuận để giúp họ vƣợt qua báo lỗ trong năm. Trong các nghiên cứu tiếp theo, Burgstahler và Dichev [9] cung cấp bằng chứng cho thấy 8-12% các công ty có lợi nhuận giảm nhẹ sẽ có hành vi điều chỉnh lợi nhuận để đạt đƣợc lợi nhuận tăng. Tƣơng tự nhƣ vậy, 30 - 44% các công ty có khoản lỗ trƣớc khi quản trị lợi nhuận để tạo ra lợi nhuận tích cực.
Họ cũng thấy rằng hai thành phần của lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động và khoản thay đổi vốn lƣu động, đã đƣợc sử dụng để quản trị lợi nhuận. Degeorge et al [19] mở rộng nghiên cứu của Burgstahler và Dichev [9] bằng cách đƣa ra dự báo của các nhà phân tích tài chính nhƣ là một ngƣỡng tiếp theo và nhận thấy rằng cần phải tránh báo cáo lỗ là ngƣỡng tiếp theo để nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận, một khi lợi nhuận đã đạt đƣợc thì sự cần thiết phải báo cáo tăng lợi nhuận và mong muốn đáp ứng các dự báo của các nhà phân tích trở nên có liên quan. Trong một cuộc khảo sát đƣợc tiến hành bởi Graham et al [26], trên 80% giám đốc tài chính đã đồng ý rằng việc đáp ứng các ngƣỡng lợi nhuận đã giúp họ xây dựng lòng tin với thị trƣờng vốn và duy trì hoặc tăng giá cổ phiếu. Ngoài ra, nghiên cứu trƣớc cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy thị trƣờng có xu hƣớng phản ứng tích cực với các công ty đáp ứng hoặc đánh bại ngƣỡng lợi nhuận và tiêu cực đối với các công ty không đạt đƣợc ngƣỡng lợi nhuận này.
Nghiên cứu trƣớc đây đã cho thấy sự không liên tục trong việc phân phối lợi nhuận quanh ngƣỡng của ba mức chuẩn lợi nhuận: lợi nhuận bằng 0, lợi nhuận năm trƣớc và dự báo lợi nhuận của các nhà phân tích (nhƣ [9], [19], [31]). Sự gián đoạn trong phân phối lợi nhuận tại các ngƣỡng trên đã đƣợc giải thích nhƣ là bằng chứng cho thấy các nhà quản trị có khuynh hƣớng quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại những chỉ tiêu về lợi nhuận này. Cơ Luan van 6 chế đầu tiên là quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh thực tế nhƣ trì hoãn đầu tƣ vào R & D, cắt giảm chi phí bán hàng, chi phí quản trị và chi phí sản xuất chung, sản xuất thừa để giảm chi phí bán hàng và cắt giảm giá hoặc kéo dài thời hạn tín dụng vào cuối giai đoạn để đẩy nhanh doanh thu [50]. Cơ chế thứ hai là quản trị các khoản thanh toán vốn lƣu động để quản trị lợi nhuận trở lên (nhƣ [9],[14],[32],[42]).
Cơ chế thứ ba là phân loại các chi phí chủ yếu sang các khoản mục không thƣờng xuyên để tăng lợi nhuận chính [40]. Phillips et al [43] cung cấp bằng chứng về chi phí thuế hoãn lại hữu ích hơn so với biến tổng dồn tích và các khoản dự phòng bất thƣờng trong việc phát hiện quản trị lợi nhuận để tránh sự suy giảm lợi nhuận và để tránh lỗ. Chỉ có biến dồn tích là hữu ích trong việc phát hiện quản trị lợi nhuận để đáp ứng dự báo lợi nhuận của các nhà phân tích. Ngoài ra, Caylor [14] thấy rằng các nhà quản trị sử dụng quyền tự quyết trong cả doanh thu dồn tích (ví dụ: các khoản phải thu) và lợi nhuận hoãn lại (ví dụ: các khoản thanh toán của khách hàng) để tránh những bất lợi không mong muốn nhƣng tìm thấy ít bằng chứng về việc nhà quản lý sử dụng quyền tự quyết để tránh lỗ hoặc lợi nhuận giảm.
Quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại ngƣỡng lợi nhuận cũng đã đƣợc kiểm tra ở một số nƣớc phát triển khác ngoài Hoa Kỳ. Sử dụng dữ liệu ở Anh, Gore và các cộng sự [27] nhận thấy rằng lợi nhuận đƣợc phân phối liên tục quanh các mục tiêu cơ bản: mức lợi nhuận, thay đổi lợi nhuận và dự báo của các nhà phân tích và các khoản dự phòng và chính các khoản dồn tích có thể điều chỉnh là một nguyên nhân quan trọng của sự gián đoạn trong phân phối lợi nhuận so với mục tiêu cơ bản. Dựa trên mẫu của các công ty New Zealand, Bennett và Bradbury [12] tìm thấy sự bất đối xứng trong việc phân phối lợi nhuận liên quan đến ngƣỡng Luan van 7 lợi nhuận có liên quan và sự bất đối xứng tồn tại cho ngƣỡng lợi nhuận bằng 0. Shuto [46] nhận thấy rằng quản trị lợi nhuận để tránh giảm lợi nhuận đƣợc công nhận rõ ràng hơn trong lợi nhuận của công ty mẹ, so với lợi nhuận hợp nhất, trong các công ty Nhật Bản trong giai đoạn 1980-1999.
Trái với những phát hiện nêu trên, một số nghiên cứu trƣớc đây đã đặt câu hỏi về tính hợp lệ của bằng chứng về quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại ngƣỡng lợi nhuận. Dechow et al [17] cho thấy rằng quản trị lợi nhuận không phải là động lực chính của sự đột biến trong phân phối lợi nhuận khoảng 0. Ngoài ra, họ cho rằng sự lựa chọn niêm yết và mở rộng theo giá trị thị trƣờng của vốn cổ phần có thể giải thích sự gián đoạn trong việc phân phối lợi nhuận. Durtschi và Easton [20] cung cấp bằng chứng cho thấy hình dạng phân bố tần suất của lợi nhuận bị ảnh hƣởng bởi tiêu chuẩn lựa chọn (tiêu chuẩn lựa chọn mẫu và sự khác biệt giữa các đặc điểm quan sát ở bên trái của 0 và quan sát bên phải của 0.
Beaver et al [11] lập luận rằng những ảnh hƣởng bất đối xứng của các thành phần lợi nhuận nhất định đối với các công ty có lợi nhuận và công ty thua lỗ góp phần làm gián đoạn việc phân phối lợi nhuận. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trƣớc xem xét quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại ngƣỡng lợi nhuận đã đƣợc tiến hành ở các thị trƣờng đã phát triển (đặc biệt là Hoa Kỳ). Việc mở rộng các nghiên cứu trƣớc đây cho các thị trƣờng vốn mới nổi hoặc đang nổi lên không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Thị trƣờng vốn mới nổi đang nổi lên có ít ngƣời đăng ký, ít đầu tƣ hơn, ít xử lý thông tin hiệu quả hơn, yêu cầu công bố thông tin ít hơn và ít thực thi việc công bố thông tin.
Ngoài ra, các quy tắc kế toán địa phƣơng đang trong quá trình chuyển đổi từ phục vụ mục đích lập kế hoạch quốc gia sang có thể hữu ích cho các quyết định đầu tƣ. Do những khác biệt về đặc điểm này, nên tác giả thận trọng hơn trong việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu ở các Luan van 8 thị trƣờng phát triển cho các thị trƣờng phát triển và thị trƣờng mới nổi. Do đó, xem xét việc quản trị lợi nhuận để đáp ứng hoặc đánh bại các ngƣỡng lợi nhuận ở các thị trƣờng nhƣ Việt Nam đang đƣợc quan tâm đặc biệt. Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu Burgstahler and Dichev [9] là một phƣơng pháp hoàn toàn mới tại Việt Nam, nghiên cứu này sẽ giúp cho ngƣời đọc có một cách nhìn mới mẻ trong việc phát hiện các hành vi quản trị lợi nhuận so với các nghiên cứu trƣớc đây đã từng áp dụng.
Tuy nhiên, với nền kinh tế của Việt Nam thì hạn chế về cỡ mẫu nghiên cứu là một trong nhƣng hạn chế đầu tiên của đề tài. Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN NHẰM TRÁNH BÁO CÁO LỖ HOẶC GIẢM LỢI NHUẬN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. Khái niệm về quản trị lợi nhuận Hành vi quản trị lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực đƣợc nghiên cứu sâu rộng trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về hành vi quản trị lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu thƣờng phát triển định nghĩa riêng của họ về hành vi quản trị lợi nhuận để phù hợp với mục đích của họ [42]. Quản trị lợi nhuận (earning management - EM) là sự điều chỉnh lợi nhuận để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra trƣớc đó của nhà quản trị [7]. Nó là ―một sự can thiệp có tính toán kỹ lƣỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt đƣợc những mục đích cá nhân‖.
Levitt [8] định nghĩa quản trị lợi nhuận là một mảng tối mà ở đó, kế toán bị làm sai do nhà quản trị đã ―cắt gọt‖ các khía cạnh của nó. Vì vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh nghiệp. Các định nghĩa trên đƣa ra khái niệm nhƣng có phần nhấn mạnh thái quá đến mặt tiêu cực của quản trị lợi nhuận nên đã đƣợc thay thế dần bởi một quan điểm toàn diện hơn của Haely & Wahlen [33] nhƣ sau: ― Hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi các nhà quản trị sử dụng các xét đoán khi lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc thay đổi cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế trong hoạt động của doanh nghiệp nhằm làm cho các đối tƣợng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về hiệu quả kinh doanh của công ty hoặc tác động đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận Luan van 10 kế toán‖. Theo Carmen Joosten [13], lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dòng tiền tích lũy, ban giám đốc công ty có 2 phƣơng thức để điều chỉnh lợi nhuận: + Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning management): Công ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thƣờng, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hƣởng.