Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo - Hồi Đáp Trong Giao Tiếp Của Người Nghệ Tĩnh

Chuyên khảo phân tích Cặp thoại chứa hành động thông báo hồi đáp trong giao tiếp của người nghệ tĩnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

165
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ

1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.4. Cơ sở lí thuyết của đề tài. Lí thuyết hội thoại

1.5. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ

1.6. Hành động ngôn ngữ thông báo

1.7. Khái quát về Nghệ Tĩnh và phương ngữ Nghệ Tĩnh

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CẤU TẠO CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG THÔNG BÁO - HỒI ĐÁP TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH

2.1. Cấu tạo của cặp thoại và tham thoại

2.2. Cấu tạo của cặp thoại

2.3. Cấu tạo của tham thoại

2.4. Thống kê và mô tả cấu tạo cặp thoại thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh

2.5. Cấu tạo của tham thoại trao chứa hành động thông báo

2.6. Cấu tạo của tham thoại hồi đáp cho tham thoại trao chứa hành động thông báo

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG THÔNG BÁO - HỒI ĐÁP TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH

3.1. Khái niệm ngữ nghĩa trong ngôn ngữ

3.2. Ý kiến của các tác giả đi trước. Phân biệt nghĩa, ý nghĩa, ngữ nghĩa

3.3. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa của cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh

3.4. Quan hệ liên cá nhân

3.5. Trạng thái tâm lí tích cực hoặc tiêu cực của người thông báo và người nhận thông báo

3.6. Thống kê, mô tả ngữ nghĩa của cặp thoại chứa hành động ngôn ngữ thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh

3.7. Thống kê định lượng các tiểu nhóm ngữ nghĩa của tham thoại trao thông báo và tham thoại hồi đáp

3.8. Mô tả các tiểu nhóm ngữ nghĩa của cặp tương tác trao - đáp chứa hành động thông báo - hồi đáp

3.9. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NGÔN TỪ CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH QUA CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG THÔNG BÁO - HỒI ĐÁP

4.1. Khái quát về văn hóa và ngôn ngữ. Quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy, văn hóa. Những nét đặc trưng văn hóa của người Nghệ Tĩnh qua cặp thoại thông báo - hồi đáp

4.2. Người Nghệ Tĩnh ưa cách nói trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề

4.3. Người Nghệ Tĩnh ưa cách nói gần gũi, xích gần quan hệ

4.4. Người Nghệ Tĩnh ưa cách nói bộc lộ tình cảm, gây sự chú ý tới người nghe

4.5. Người Nghệ Tĩnh thường sử dụng các từ ngữ còn lưu giữ sắc thái địa phương cổ

4.6. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo Trong Giao Tiếp

Nghiên cứu hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học hiện đại. Đề tài này không chỉ giúp làm rõ cách thức giao tiếp mà còn phản ánh những đặc trưng văn hóa của người Nghệ Tĩnh. Hành động thông báo được thực hiện qua các cặp thoại, thể hiện sự tương tác giữa người nói và người nghe. Việc nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ và văn hóa của vùng đất này.

1.1. Định nghĩa Hành Động Thông Báo Trong Giao Tiếp

Hành động thông báo là một trong những hành động ngôn ngữ cơ bản, giúp người nói truyền đạt thông tin đến người nghe. Theo Searle, hành động này thuộc nhóm tái hiện, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giao tiếp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo

Nghiên cứu hành động thông báo không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn phản ánh những đặc trưng văn hóa của người Nghệ Tĩnh. Điều này góp phần làm phong phú thêm bức tranh ngôn ngữ Việt Nam.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo

Mặc dù hành động thông báo là một phần quan trọng trong giao tiếp, nhưng việc nghiên cứu nó vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như ngữ cảnh, văn hóa và tâm lý của người giao tiếp có thể ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành động này. Việc thiếu tài liệu nghiên cứu hệ thống về hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Động Thông Báo

Ngữ cảnh giao tiếp, tâm lý của người nói và người nghe, cũng như các yếu tố văn hóa đều có thể ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành động thông báo. Điều này tạo ra sự đa dạng trong cách thức giao tiếp.

2.2. Thiếu Tài Liệu Nghiên Cứu Hệ Thống

Hiện tại, chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống về hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh. Điều này gây khó khăn cho việc hiểu rõ bản chất và đặc điểm của hành động này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo Hiệu Quả

Để nghiên cứu hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như điều tra điền dã, phân tích diễn ngôn và thống kê. Những phương pháp này sẽ giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Phương Pháp Điều Tra Điền Dã

Phương pháp này bao gồm việc ghi âm và ghi chép các cuộc thoại trong đời sống hàng ngày của người Nghệ Tĩnh. Điều này giúp thu thập dữ liệu thực tế và phong phú.

3.2. Phân Tích Diễn Ngôn Trong Giao Tiếp

Phân tích diễn ngôn giúp hiểu rõ hơn về cách thức thực hiện hành động thông báo trong các tình huống giao tiếp cụ thể. Điều này cho phép nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hành động này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo

Nghiên cứu hành động thông báo có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, truyền thông và văn hóa. Việc hiểu rõ cách thức giao tiếp của người Nghệ Tĩnh sẽ giúp cải thiện mối quan hệ giữa các cá nhân và cộng đồng.

4.1. Ứng Dụng Trong Giáo Dục

Hiểu rõ hành động thông báo sẽ giúp giáo viên và học sinh cải thiện kỹ năng giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

4.2. Ứng Dụng Trong Truyền Thông

Nghiên cứu này có thể giúp các nhà báo và người làm truyền thông hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, từ đó tạo ra các nội dung phù hợp và hấp dẫn.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Hành Động Thông Báo

Nghiên cứu hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh không chỉ giúp làm rõ bản chất của hành động này mà còn phản ánh những đặc trưng văn hóa độc đáo của vùng đất này. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị mới cho ngôn ngữ học và văn hóa Việt Nam.

5.1. Tóm Tắt Những Đóng Góp Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, từ đó làm rõ vai trò của nó trong văn hóa giao tiếp.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hành động thông báo trong các vùng miền khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

08/07/2025
Cặp thoại chứa hành động thông báo hồi đáp trong giao tiếp của người nghệ tĩnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (mở thoại), đoạn thoại thân cuộc thoại (thân thoại), đoạn thoại kết thúc (kết thoại). Thông thường, đoạn mở và kết thoại có cấu trúc tương đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại. Đoạn mở thoại thường có tính công thức và đưa đẩy, nhằm mục đích tạo lập quan hệ là cơ bản. Đoạn thân thoại có thể chỉ một đoạn thoại hoặc một số đoạn thoại.

Mỗi một đoạn thoại có sự thống nhất về chủ đề, phạm vi hiện thực. Tuy nhiên, trong một cuộc thoại có nhiều đoạn thoại, thì mỗi đoạn thoại có thể có những chủ đề nhỏ, phản ánh những mặt, những khía cạnh, bình biện khác nhau nhằm làm sáng tỏ chủ đề lớn. Đoạn kết thoại thường là tổng kết cuộc thoại, kết luận về một đề tài kèm theo lời cảm ơn, lời chúc, từ biệt. Nhìn chung, tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh giao tiếp, nền văn hóa của dân tộc, mục đích giao tiếp, quan hệ liên nhân cũng như tính chất của cuộc thoại.

Cặp thoại (cặp trao đáp) Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu mà “với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc hội thoại chính thức được tiến hành” [17, tr. Thông thường, một cặp thoại gồm có: một tham thoại có chức năng dẫn nhập (gọi là tham thoại dẫn nhập) và một tham thoại có chức năng hồi đáp (gọi là tham thoại hồi đáp). Chúng làm thành một cặp thoại do hai nhân vật - vai giao tiếp - thực hiện. - Tham thoại dẫn nhập: theo trật tự tuyến tính, đây là tham thoại thứ nhất của cặp thoại.

Tham thoại dẫn nhập do vai nói (chúng tôi ghi là Sp1- Speaker, người nói trước, chủ động) chủ động đưa ra với những hiệu lực ở lời buộc người nghe (chúng tôi ghi là Sp2 - người đáp lại lời trao của Sp1) phải hồi đáp lại bằng hành động ngôn ngữ tương ứng với nó. - Tham thoại hồi đáp: Chức năng hồi đáp là chức năng của một tham thoại hướng vào hiệu lực ở lời của tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại. Lan: Chiều ni (nay) đi Cửa Lò nhởi (chơi) đi. Mai: Ok, rủ thêm mấy đứa nựa (nữa) ta đi cho vui hè (nhỉ).

Lượt lời của Lan (Sp1) là tham thoại dẫn nhập có hiệu lực ở lời rủ; lượt lời của Mai (Sp2) là tham thoại hồi đáp đáp lại hành động rủ của Sp1 bằng hành động đồng ý. Nếu tham thoại hồi đáp (nói đầy đủ là hành động chủ hướng của tham thoại có chức năng hồi đáp) thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập (nói đầy đủ là thoả mãn được đích của hành động chủ hướng trong tham thoại có chức năng dẫn nhập) ta sẽ có hồi đáp tích cực. Ngược lại khi tham thoại hồi đáp đi ngược lại với đích của tham thoại dẫn nhập ta gọi đó là hồi đáp tiêu cực. Căn cứ vào tính chất của tham thoại hồi đáp, chúng ta có thể phân chia cặp thoại ra làm hai nhóm: Cặp thoại tích cực (có chứa tham thoại hồi đáp tích cực) và cặp thoại tiêu cực (có chứa thm thoại hồi đáp tiêu cực).

Sp1: Thông báo với mi (mày) là túi ni (tối nay) đội văn nghệ lớp ta tập nha, 7 giờ, trước sân kí túc xá A1. Tham thoại dẫn nhập trong lượt lời Sp1 nhận được hai hồi đáp, trong đó hồi đáp 17 Sp2(1) là hồi đáp tích cực, còn hồi đáp Sp2(2) là hồi đáp tiêu cực. Cặp thoại Sp1 - Sp2(1) là cặp thoại tích cực còn cặp thoại Sp1- Sp2(2) là cặp thoại tiêu cực. Nếu Sp2 không hồi đáp (bằng lời hoặc cử chỉ đi kèm) ta có cặp thoại hẫng.

Các cặp thoại như đã miêu tả gồm 1 tham thoại dẫn nhập và 1 tham thoại hồi đáp cho nó lập thành cặp kế cận. Đây là cặp thoại thường được sử dụng trong giao tiếp. Tuy nhiên trong thực tế không phải bao giờ một hành động ở lời đưa ra cũng nhận ngay được sự hồi đáp ở người nghe. Tuỳ từng hoàn cảnh giao tiếp, trước khi đưa ra lời hồi đáp người nghe có thể “dẫn dắt” người nói cùng với mình làm rõ một số điều có liên quan đế nội dung nêu ra ở tham thoại dẫn nhập.

Chúng tạo thành các cặp chêm xen. Sp1: Con sang nhà bà Hoà mượn cho bố cái cưa. Sp2: Bà Hoà nào bố? Sp1: Bà Hoà nhà ông Minh ấy. Sp2: Vâng, con đi ngay ạ.

Ở ví dụ trên cặp “Sp2- Bà Hoà nào bố? và Sp1- Bà Hoà nhà ông Minh ấy.” tạo thành cặp chêm xen. Luận án chỉ tập trung tìm hiểu cặp thoại có tham thoại dẫn nhập thông báo và tham thoại hồi đáp đáp lại hành động thông báo tạo thành cặp kế cận. Tham thoại “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [17, tr. Đỗ Hữu Châu cho rằng: “một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời)” [17, tr.

Ông phân biệt rạch ròi hai khái niệm “lượt lời” và “tham thoại” chứ không đồng nhất như quan điểm của Nguyễn Đức Dân. Như vậy, tham thoại là đơn vị trực tiếp cấu thành cặp thoại. Nếu cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất thì tham thoại là đơn vị đơn thoại. Tham thoại có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượt lời.

Theo lí thuyết của các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ - Pháp, đơn vị nhỏ nhất của hội thoại là hành động ngôn ngữ. Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên tham thoại. Vậy, cấu tạo của tham thoại được hiểu là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố ngôn từ tạo nên một hành động hay chuỗi các hành động tạo lời của nhân vật hướng đến người nghe theo chức năng nhất định. Trong thực tế giao tiếp, một tham thoại không chỉ chứa một hành động ngôn ngữ mà có thể do nhiều hành động ngôn ngữ tạo nên.

Sp1: Chào cậu! Sp2: Chào bác! Bác cho cháu hỏi một tí từ đây xuống Xuân Song có xa nựa (nữa) không bác? Ở ví dụ trên, tham thoại của Sp1 chứa 1 hành động (hành động chào); còn tham thoại đáp của Sp2 chứa 2 hành động (hành động chào + hành động hỏi). Trong tham thoại chứa nhiều hành động sẽ có một hành động nòng cốt hay còn gọi là hành động chủ hướng. Theo trường phái Geneve, một tham thoại có 1 hành động chủ hướng (direction viết tắt là CH) và các hành động phụ thuộc đi kèm (subordination viết tắt là PT). Như vậy, cấu trúc của tham thoại có thể là: CH PT CH CH PT PT CH PT PT PT CH PT Tương tự, khi nghiên cứu cấu tạo của tham thoại, Dương Tuyết Hạnh cho rằng: “Cấu tạo của tham thoại gồm hai thành tố: thành tố mở rộng và thành tố cốt lõi; trong đó, thành tố cốt lõi bao gồm hành động chủ hướng và các hành động phụ thuộc”.

Tác giả cũng đã phân biệt hành động phụ thuộc và hành động mở rộng trong cấu tạo của tham thoại. “Hành động phụ thuộc trong mối liên hệ với hành động chủ hướng là hành động có chức năng củng cố, biện minh, đánh giá, lập luận… nhằm hỗ trợ cho hành động chủ hướng” [53, tr. Còn hành động mở rộng là “hành động thuần tuý ngữ dụng, chủ yếu có chức năng duy trì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại” [53, tr. Sp2: Để tau bật cho (CH).

Lượt lời của Sp2 có chức năng hồi đáp vào hành động chủ hướng nhờ vả của Sp1. Có thể thấy, các tác giả khi đề cập đến tham thoại đều nhấn mạnh đến vai trò trụ cột của hành động chủ hướng trong tham thoại, nó là yếu tố “quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp với người đối thoại” [17, tr. 19 Như vậy, khi nghiên cứu tham thoại, người nghiên cứu không chỉ xét nó ở dạng cô lập mà phải đặt nó vào trong sự tương tác hội thoại để có thể hiểu nó một cách đầy đủ và bản chất nhất. Sp1: Len ơi, túi ni (tối nay) Phòng ta tập văn nghệ nha, sắp thi rồi nên tích cực tập cho xong, 7 giờ, trước sân Sở nhé.

Sp2: Dạ chị, túi ni (tối nay) em đưa con đi học em xin phép đến muộn 20 phút nha. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 1. Khái niệm hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Nó được khởi xướng bởi nhà triết học - ngôn ngữ học người Anh - J.

Austin; sau đó được J. Searle và một số nhà nghiên cứu khác kế thừa và phát triển. Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là: nói năng là hành động. Austin cho rằng có thể phân chia hoạt động nói năng của con người thành ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời.

- Hành động tạo lời (Locutionary act): Hành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm, sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được… Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức đủ nghĩa để trao đổi thông tin, tư tưởng với nhau. - Hành động mượn lời (Perlocutionary act): Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, mượn các phát ngôn để tạo ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Với những người nghe khác nhau, ta có hiệu quả lời nói khác nhau. Loại hành động này có đích tác động cụ thể.

Tuy nhiên, nó không gây ra một phản ứng đồng nhất đối với các người nghe khác nhau. - Hành động ở lời (Illocutionary act): Hành động ở lời là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những tác động thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là sự hồi đáp của người nghe khi tiếp nhận hành động ở lời.

Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có ý định hay có đích, quy ước và có thể chế quy ước dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà 20 quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách tự giác. Trong ba loại hành động này thì hành động ở lời chính là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học. Ducrot, “Hành động ở lời khác hành động tạo lời và hành động mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ