CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. Đặc điểm thực vật hoc loài Gai ma vương 1. Vị trí trong bảng hệ thông phân loại Loài Gai ma vương hay còn gọi là Bach tật lê, Thích tật lê, Gai sầu, Gai yết hầu. có vị trí trong sinh giới như sau: Giới: Thực vật - Plantae Ngành: Mộc lan - Magnoliophyta Lớp: Mộc lan - Magnoliopsida Phân lớp: Hoa hồng — Rosidae Bộ: Quỷ kiến sau - Zygophyllales Ho: Quy kiến sau — Zygophyllaceae Chi: Quy kiến sâu — Tribulus Loài: Gai ma vương — Tribulus terrestris L.
1753 Tén đồng đanh: 7. Loài Gai ma vương (Tribulus terrestris L. Đặc điểm thực vật học Theo Phạm Hoàng Hộ mô tả, loài Gai ma vương là loải co nằm, đa niên, có lông trắng nằm [4]. Đỗ Tất Lợi đã mô tả đây là loài cỏ bò lan trên mặt đất.
Lá mọc đối dai 2 - 3 em, kép lông chim, 5 đến 6 đôi lá chét đều nhau. phủ lông trắng mịn ở mặt dưới. Hoa vàng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá. Hoa phân hóa dai - trang, dai 5, trang 5, 10 nhị.
Hoa 9 nở vào mila hè tháng 5 - 7, quả từ thang 8 - 9. Quả nhỏ, khô, gồm 5 vỏ cứng trên có gai, đưới lớp vỏ dày là hạt có phôi không nội nhũ [Š]. Phân bé Loài Gai ma vương là cây ua sáng, chịu được khô hạn, thường mọc thành đám nhỏ trên các bãi cát ven biên, phân bé từ vĩ độ 35°N đến 47°B, ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, châu Phi và vùng ôn đới với nhiệt độ ấm áp của châu Âu |6]. Ở Việt Nam, mọc hoang đại ở những vùng đất khô, dat cát doc vùng ven biên, ven sông các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Thuận và các tỉnh miền Nam nước ta.
Thành phan hoá học Hàm lượng chất khô và chất hữu cơ của Gai ma vương là 932 g/kg và 811 g/kg. Trong đó: Ham lượng protein thô là 156,25 g/kg. Hàm lượng chat xơ trung tính là 467 g/kg. Hàm lượng chất xơ không tan trong acid là 374 g/kg.
Nitrogen không hoà tan trong acid là 14 g/kg [7]. Nhiều hợp chất với nhiều loại hoạt tính sinh học và cau trúc hoá học đã được xác định trong chiết xuất của Gai ma vương. Đến hiện nay, có hơn 70 hợp chất khác nhau đã được tìm thấy trong Gai ma vương bao gồm: khoảng 15 loại hợp chất furostanol saponins, khoảng 13 loại hợp chat spirostanol saponins; khoảng 3 loại hợp chất cinnamic acid amides; khoảng 4 loại hợp chất dan xuất quinic acid; khoảng 16 loại hợp chất flavonoids; khoảng 8 loại hợp chat alkaloids; khoảng 5 loại hợp chat amides và lignanamides; khoảng 5 loại hợp chat acid béo va ester acid béo, khoáng 2 loại hợp chat phytosterols; khoảng 5 loại các hợp chất khác. Thành phần và hoạt tính sinh học của Gai ma vương có liên quan chặt chẽ đến nguồn gốc của thực vật cụ the là điều kiện sinh trưởng bao gom điều kiện khí hau, chất lượng đất, thời kì thu hoạch.
Các nghiên cứu đã cho thấy có sự chênh lệch lớn về sự có mặt và hảm lượng các hoạt chất (đặc biệt là ham lượng furostanol và spirostanol saponoside, được coi là những hoạt chất chủ yếu liên quan đến tác dụng điều trị) ở các mau thu khác nhau của Gai ma vương [2]. Công dung Cây Gai ma vương hoặc các sản phẩm của nó được sử dụng rộng rãi trong y học cô truyền dé điều trị các bệnh khác nhau như sau: Hệ tiết niệu: có tác dụng lợi tiêu điều trị rồi loạn tiết niệu, tiểu đêm nhiều lần, tiểu tiện không thông, tiêu buốt và các bệnh vẻ thin, chống sỏi niệu. Hệ tim mạch: kích thích lưu thông máu, hạ huyết áp điều trị tăng huyết áp, điều trị rỗi loan tim mạch, có hiệu qua trong điều trị cơn đau thắt ngực bang cách làm giãn mạch vành và cải thiện tuần hoàn tim. Hệ tiêu hoá: điều trị rối loạn tiêu hoá.
Hệ sinh dục: kích thích tinh dục, chữa liệt đương, xuất tỉnh sớm ở nam giới, kích thích sinh tinh. Ngoàải ra, Gai ma vương còn có tác dụng tây giun san, giảm thâm, khử trùng và chống viêm, chữa bệnh gout, điều trị bệnh phong, các bệnh da vảy và bệnh vay nên, giảm đau đo thấp khớp, chữa gan bị suy nhược, tức ngực, viêm tuyến vú, làm sáng mắt điều trị viêm kết mạc cấp,. và Gai ma vương được báo cáo là có hoạt tính kháng khuẩn [8]. Hon thé nữa, các chiết xuất của Gai ma vương đang được sử dung dé nghiên cứu và bước đầu chứng minh khả năng loại bỏ tận gốc, khả năng chong viêm, khả năng chống oxy hoá và chống ung thư.
chong lại sự tăng sinh tế bảo ung thư [1]. Công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Amr Amin và cộng sự (2006) đã nghiên cứu “Hiệu ứng bảo vệ của cây gai ma vương trong điều trị bệnh tiêu đường", chiết xuất Gai ma vương được thử nghiệm làm giảm đáng kê mức độ ALT va creatinine trong huyết thanh (P <0,05) ở nhóm bệnh nhân tiêu đường và hạ mức MDA trong gan (P <0.05) ở bệnh nhân tiêu đường và (P <0. Mặt khác, mức độ GSH giảm trong gan đã tăng lên đáng kê (P <0,01) ở chuột dai thao đường được điều trị bằng Gai ma vương. Kiém tra mô bệnh học cho thay sự phục hồi đáng kê của gan trong điều trị chuột bằng thảo mộc.
Điều tra này cho thấy rằng tác dụng bảo vệ của Gai ma vương với chuột tiêu đường do STZ gây ra có thể được thực hiện thông qua cách ức chế oxy hóa {9}. AL-BAYATI và cộng sự (2008) đã nghiên cứu “Hoạt động khang khuân và kháng nắm của các bộ phận khác nhau của cây Gai ma vương mọc ở Iraq” đã đưa ra kết quả như sau: Hoạt động kháng khuẩn của chiết xuất hữu cơ trong dung dịch nước từ 11 qua, lá va rễ cây Gai ma vương Tribulus terrestris L., đã được kiêm tra chong lại 11 loài vi sinh vật gây bệnh và không gây bệnh. Chiết xuất hiệu quả nhất chống lại cả vi khuẩn gram âm và gram đương. Ngoài ra, từ chiết xuất của cùng một bộ phận thực vật đã thé hiện hoạt tính kháng nam [10].
Nghiên cứu “Sinh tông hợp các hat nano bạc từ Tribulus terrestris L. và hoạt động kháng khuan” được V. Gopinath và cộng sự (2012) thực hiện. Trong nghiên cứu này phân thân.
quả của cây Gai ma vương chính là đối tượng được nghiên cứu, chiết xuất thân, quả khô được trộn với bạc nitrat dé tông hợp các hạt nano bạc. Các hoạt chất thực vat có trong cây có tác dung cho sự khử nhanh chóng của ion bạc (Ag”) thành các hạt nano bạc kim loại (Ag”). Đặc tính khang khuẩn của các hat nano tông hợp được quan sát băng phương pháp Kirby - Bauer với các vi khuẩn đa kháng thuốc được phân lập trên lâm sang như Streptococcus pyogens, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Bacillus subtilis va Staphylococcus aureus [TT]. Saurabh Chhatre va cộng sự (2014) đã đưa ra công trình nghiên cứu “Téng quan vẻ thực thể học của loài Gai ma vương”, trong đó có hoạt động dược lực học của Gai ma vương về hoạt động lợi tiểu, kích thích tinh dục, chồng ung thư, điều hoà miễn dich, chống đái tháo đường, chất tăng cường hấp thụ, hạ lipid máu, điều trị các bệnh tim, chống trầm cam, âu lo, bảo vệ gan, chống viêm, giảm dau, chống co thắt, chống ung thư, kháng khuẩn, tây giun san, điệt bọ gậy va chồng dị ứng [12].
Nuôi cấy in vitro Trong điều kiện in vitro, những yếu tổ tác động đến sự sinh trưởng của thực vật được điều khién thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển tối đa của thực vật. Dé có thẻ điều khién sự sinh trưởng và phát triển của thực vật theo hướng mong muốn, người ta đã điều chỉnh các yếu tổ trong nuôi cay in vitro. Thanh phan hoá học Trong môi trường. các mudi khoáng được chia thành các nguyên tô vi lượng và đa lượng: Các chất dinh dưỡng đa lượng bao gôm sáu nguyên tố: nitrogen (N), phosphorus (P), potassium (K), calcium (Ca), magnesium (Mg) và sulphur (S) tồn tại dưới dạng muối khoáng, là thành phan của các môi trường dinh duéng khác nhau.
Tat ca các nguyên tô này là rat can thiệt cho sinh trưởng của mô va tế bao thực vật. 12 Các nguyên tổ vô cơ cần một lượng nhỏ nhưng không thé thiểu cho sinh trưởng của mô và tế bảo thực vật được gọi là các nguyên tổ vi lượng. Đó là các ion: iron (Fe), manganese (Mn), zinc (Zn), boron (B), copper (Cu). Yếu tô vật lí 1.
Ánh sáng Trong môi trường nuôi cấy, quang tông hợp không phải là một hoạt động cân thiết do sự có mặt của đường trong môi trường, tuy vậy ánh sáng lại cần thiết cho một số quá trình liên quan đến phát sinh hình thái cây. Tùy từng mục đích nuôi cấy mà yêu cầu về cường độ và thời gian chiều sáng khác nhau. Thông thường, trong phòng nuôi cấy, người ta thường sử dụng ánh sáng huỳnh quang chiếu sáng 12 - 16 giờ/ngày với cường độ 2000 lux [13]. Trong các nghiên cứu về hoá thực vật, các hoạt chất sinh học bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi cường độ ánh sáng, có thẻ là nhân tô hạn chế hoặc thúc day sự tăng trưởng của các hợp chất sinh học trong cây.
Cường độ ánh sáng cao được sử đụng dé tao ra quá trình sinh tông hợp hoạt tính sinh học của cây. Tuy nhiên khi sử dung cường độ ánh sáng cao, cần cân bang với nhiệt độ trong môi trường nuôi cấy, nêu cường độ ánh sáng quá cao sẽ gây ra dư thừa ánh sáng [14]. Ánh sáng trên dàn nuôi phải là loại ánh sáng có phổ gần như ánh sáng tự nhiên (230 - 780 nm). Các loại đèn huỳnh quang ánh sáng trắng nói chung đều đáp ứng được yêu cầu trên.
Cũng có những phát hiện cho thấy ánh sáng vùng cận tím (350 - 400 nm) có tác dụng kích thích sinh trưởng của thực vật nói chung, trong đó có cả cây nuôi cay in vitro. Có hai cách bố trí nguồn sáng: cách thứ nhất, trực tiếp trên mỗi tang của giá hoặc tú nuôi cay, đèn mắc song song với mặt phăng cần chiếu sáng: cách thức hai, bên cạnh, dén mắc vuông góc với mặt phang cần chiếu sang. Nhiệt độ Nhiệt độ là yếu tố vật lí ảnh hưởng đến nuôi cấy mô - tế bao thực vật. Tùy từng nuôi cay, mục đích va đối tượng nuôi cấy mà có sự điều chỉnh nhiệt độ thích hợp.
Đối với nghiên cứu tạo mô sẹo phát triển nhằm mục đích tạo ra các hợp chất, sản phâm thứ sinh thì việc điều chỉnh nhiệt độ rất có ý nghĩa. Quá trình cảm ứng giúp tế bào sinh trưởng và phát trién, tiết các hợp chất thứ sinh.