Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây Nhàu 1. Đặc điểm phân loại và đặc điểm sinh học Cây Nhàu có tên khoa học là Morinda citrifolia L. thuộc họ Coffee Rubiaceae, Bộ Long đởm (Gentianales).
Tên nước ngoài: Great morinda, Indian Mulberry (India), Dog Dumpling (Barbados), Mengkudu (Malaysia), Tahiti Noni (Ameraca). Phân loại khoa học Giới: Plantea Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Gentianales Họ: Rubiaceae Chi: Morinda Loài: Morinda citrifolia L. Cây Nhàu còn gọi là cây Noni Berry, cây Ngao núi, Nhàu rừng, Nhàu núi, cây Giàu [3], [8], [15]. Chi Morinda thuộc họ Coffee Rubiaceae và bao gồm khoảng 80 loài: Morinda citrifolia Linn (Morinda citrifolia L.), thường được gọi là Noni hoặc Mulberry Ấn Độ.
Nhàu đã được sử dụng như một cây thuốc của người Polynesia 200 năm trước. Hiện nay, Nhàu là một loại cây điển hình được tìm thấy ở các vùng khí hậu nhiệt đới của Hoa Kỳ (Hawaii), Brazil, Tahiti, Malaysia và Quần đảo Fiji. Nghiên cứu đầu tiên về tác dụng của trái cây Nhàu của Heinicke đã chứng minh rằng Nhàu có chứa xeronine alkaloid. Mặc dù trong trái cây Nhàu lượng xeronine tự do không đáng kể, chúng vẫn chứa một lượng đáng kể tiền chất của xeronine, được đặt tên là proxeronine.
Một trong những lý giải cho tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sỹ Sinh học dụng dược liệu của trái cây Nhàu là xeronine có thể điều chỉnh cấu trúc và tính ổn định của các protein đích. Các tác dụng có lợi của trái cây Nhàu, chẳng hạn như trong điều hòa kinh nguyệt, tăng huyết áp, bỏng, trầm cảm, xơ vữa động mạch, tiêu hóa, giảm đau và nhiều tác dụng khác [26]. Cây, hoa và quả Nhàu (Ảnh chụp của tác giả luận văn tại tỉnh Champasak Lào, 3/4/2018) Cây Nhàu có khoảng 40 loài trên thế giới. Ở Việt Nam hiện đã biết 9 loài [2].
Nhàu thường mọc ở vùng nhiệt đới và ôn đới. Ở Việt Nam, Nhàu mọc nhiều ở những vùng ẩm thấp dọc theo bờ sông bờ suối, ao hồ hoặc mương rạch ở khắp các tỉnh miền Nam, một số tỉnh miền Trung và rải rác ở miền Bắc. Loài này được miêu tả khoa học lần đầu tiên năm 1753 [38]. Cây Nhàu là một trong những loài cây được xếp vào nhóm cây là vị thuốc quý ở Việt Nam theo Đỗ Tất Lợi.
Một loại cây khá quen thuộc với người dân miền Nam. Cây Nhàu có nguồn gốc từ châu Úc và châu Á, phân bố ở các quốc gia khác nhau trong đó có Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào. Cây Nhàu thường mọc ở độ cao 0 đến 500m tính từ mực nước biển [15]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sỹ Sinh học Nhàu là loại cây ưa sáng, ưa ẩm.
Khi chưa trưởng thành, cây mọc tự nhiên có thể núp dưới tán cây khác. Tuy nhiên để có điều kiện tốt nhất để sinh trưởng và phát triển cây cần đầy đủ ánh sáng. Chính vì vậy, người ta thường thấy loại cây này trong rừng thứ sinh, nương rẫy của nhiều tỉnh. Loại cây này dễ thích nghi ở môi trường đất ẩm, đặc biệt là đất bazan, cạnh mương, hồ… Loại đất trồng có chứa tỉ lệ mùn, tơi xốp và dễ dàng thoát nước.
Cây được trồng vào thời vụ xuân, khi thời tiết có mưa phùn hoặc đầu mùa mưa [4]. Cây Nhàu là cây thân gỗ, thân cây nhẵn, có nhiều cành, thường có chiều cao khoảng từ 6 - 8 m. Cành non mập, có 4 cạnh rõ, có màu lục hoặc nâu nhạt. Cành non màu xanh, tiết diện vuông, có rãnh, nhẵn; cành già tiết diện tròn, màu nâu xám.
Lá: Lá mọc đối, hình bầu dục, nhọn ở đầu, dài 12 - 15 cm, rộng 6 - 8 cm, mép uốn lượn, mặt trên của lá có màu xanh đậm, bề mặt bóng, mặt dưới màu xanh nhạt. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, có 6 - 7 cặp gân phụ. Lá kèm nằm giữa 2 lá mọc đối, hình xoan, dài 1 - 1,5 cm, màu xanh nhạt. Hoa: Cụm hoa đầu hình tròn hay hơi bầu dục, ở ngoài nách lá.
Trục cụm hoa hình trụ, màu xanh, nhẵn, dài 1 - 2 cm. Đáy cụm hoa có 3 phiến hẹp, dài 5- 8 mm. Hoa đều, lưỡng tính. Đài hoa là một gờ tròn.
Có 5 cánh hoa, ống tràng hình phễu, màu xanh nhạt, cao 7 - 12 mm; có nhiều lông trắng bên trong; 5 thùy dài khoảng 5 - 8 mm, màu trắng, hình bầu dục, đầu nhọn, đỉnh có một mấu nhỏ cong vào trong. Khi hoa nở các thùy cong xuống phía dưới; tiền khai van. Có 5 nhị, bằng nhau, rời, gắn ở phần loe của ống tràng xen kẽ với các cánh hoa, chỉ nhị rất ngắn. Bao phấn hình mũi tên, màu vàng nhạt, dài khoảng 4 mm; 2 ô, mở dọc, hướng trong, đính gốc.
Hạt phấn rời, hình cầu, màu vàng nhạt. Lá noãn 2, ở vị trí trước sau, bầu dưới, 2 ô, mỗi ô 1 noãn, đính trung trụ. Vòi nhụy dạng sợi màu xanh nhạt, dài 5 mm; 2 đầu nhụy dạng phiến mỏng, dài 3 mm, màu xanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sỹ Sinh học Đĩa mật dày, hình khoan, màu vàng.
Cây ra hoa quanh năm, tập trung nhiều nhất vào khoảng tháng 11 đến tháng 2 năm sau, cho quả vào khoảng tháng 3 - 5 [38]. Quả: Quả hạch kép do bầu noãn và một phần lá đài của các hoa trên cụm hoa dính nhau tạo thành. Quả chín vào khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8. Quả khi còn non có màu xanh nhạt, khi chín có màu trắng hoặc vàng nhạt.
Quả có chiều dài khoảng từ 5 - 6 cm, rộng từ 3 - 4 cm. Quả nhẵn bóng, mùi nồng, trên quả còn vết tích các đĩa mật. Quả thịt, hình trứng, xù xì gồm nhiều quả hạch dính vào nhau, mềm, ăn được. Hạt: Hạt nhiều, hình bầu dục, một đầu nhọn, màu nâu đen [3], [8], [15], [38].
Hạt quả Nhàu (Ảnh chụp của tác giả luận văn tại tỉnh Champasak Lào, 3/4/2018) 1. Giá trị dược liệu Cây Nhàu đã và đang được các cơ sở nghiên cứu, sản xuất dưới nhiều dạng bào chế khác nhau để chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Y tế Domesco, tỉnh Đồng Tháp sản xuất thuốc viên Morinda Citriforlia, nước ép trái Nhàu Doromi, rượu Morinda trái Nhàu. Những sản phẩm này đã được Bộ Y tế cấp số đăng ký và lưu hành trên toàn quốc.
Đặc biệt viên bao phim Morinda Citriforlia đã và đang được xuất khẩu ra thị trường thế giới [4]. Năm 1996, vì các đặc tính dinh dưỡng và điều trị của Nhàu, NJ thương mại đã được bán trên thị trường như một chất bổ sung chế độ ăn uống. Sau đó, vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sỹ Sinh học năm 2003, Ủy ban Châu Âu đã phê duyệt nước ép Nhàu như một loại thực phẩm mới của Tổng cục Bảo vệ Sức khỏe và người tiêu dùng. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu các hợp chất có hoạt tính sinh học trong quả Nhàu, cũng như trong các bộ phận khác của cây, như lá, rễ, vỏ rễ, hạt, thân và hoa, vì những lợi ích tiềm năng của chúng đối với sức khỏe [26].
Trong y học cổ truyền, Nhàu được xem là cây dược liệu quý được dùng để chữa nhiều bệnh như: mất ngủ, đau lưng, huyết áp cao, an thẩn, giảm đau, tăng cường sinh lực,.Tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều có dược tính. Theo Đông y Trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tác dụng chống khối u và kích thích miễn dịch của trái cây Nhàu trồng ở Hawai [37]. Tại Việt Nam, Nhàu là một trong số 300 vị thuốc Nam được một thầy thuốc nổi tiếng của miền Nam trước cách mạng Tháng Tám khuyến khích sử dụng xen kẽ với thuốc Bắc để tiết kiệm cho người bệnh [2]. Nhàu rừng và rễ Nhàu cũng là hai trong số 208 vị thuốc Nam được Việt Cúc ghi lại trong “Nam dược tính yếu lược” (1965).
Đặc biệt từ năm 1952 đã được công bố nhiều nghiên cứu về tác dụng của rễ Nhàu trên các bệnh nhân [4]. Đỗ Tất Lợi, nhà nghiên cứu nổi tiếng về “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” cũng đã đề cập đến cây Nhàu và xếp vị thuốc này vào danh mục những vị thuốc về huyết áp [15]. Hiện nay, nhiều xí nghiệp dược trong nước cũng đã sản xuất thuốc viên và thuốc nước chiết xuất từ Nhàu. Các bộ phận cây Nhàu được dùng làm thuốc: Rễ Nhàu: Thu hái vào mùa đông.
Ngoài công dụng nhuộm màu vải, đem ngâm rượu uống chữa bệnh nhức mỏi, đau lưng, dịch trích toàn phần từ rễ Nhàu có tác dụng làm hạ huyết áp…(có khi dùng quả Nhàu non thái mỏng sao khô thay rễ). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sỹ Sinh học Quả Nhàu: Thu hoạch vào mùa hạ. Có mùi khai mạnh, có vị cay nồng và hơi chát ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng, làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, đau gan, tiểu đường. Nướng chín ăn để chữa kiệt lỵ.
Vì mùi hăng, nồng và cay nên khó ăn được nhiều. Lá Nhàu: Thu hoạch quanh năm. Dùng tươi, rửa sạch giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lành, chóng lên da non. Lá Nhàu phơi khô, thái nhỏ sắc uống chữa kiệt lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ.
Vỏ cây Nhàu: Nấu nước cho phụ nữ sau khi sinh uống bổ máu [3], [15], [19]. Công dụng và liều dùng: Dùng rễ Nhàu sắc uống hàng ngày thay nước chè chữa cao huyết áp, uống hàng tháng với liều 30 - 40 g rễ, sắc và uống thay nước chè trong ngày. Sau 15 hôm sẽ có kết quả, uống tiếp tục 2 - 3 tháng liền sau đó với liều giảm xuống. Có thế nấu thành cao, hoặc thái nhỏ, sao vàng, ngâm rượu uống.
Quả non thái nhỏ, sao vàng, dùng thay rễ. Lá dùng giã nát đắp ngoài hoặc sắc uống với liều 8 - 10 g sắc với 500 ml nước, chia làm 2 lần uống trong ngày chữa bệnh đường ruột, chữa sốt, cảm, nhức đầu, chóng mặt [3], [15], [19]. Một số bài thuốc từ cây Nhàu: Chữa huyết áp cao: Rễ Nhàu 30 - 40 g, sắc uống thay nước chè, sau hai tuần là có kết quả, sau đó giảm bớt liều, uống liên tục trong 2 - 3 tháng. Chữa nhức mỏi tay chân, đau lưng: quả Nhàu non thái mỏng sao khô, 300g ngâm trong 2 lít rượu 30 - 40 độ sau hai tuần, uống ngày hai lần, lần một ly con 30 - 40 ml.