Đặt vấn đề Ngày nay, với sự phát triển của xã hội hiện đại, đời sống của con người ngày càng được nâng cao và cải thiện. Bởi vậy ngoài các nhu cầu vật chất thiết yếu thì nhu cầu về vui chơi, giải trí, làm đẹp ngày càng được chú trọng. Một trong những nhu cầu giải trí phổ biến hiện nay đó chính là thú chơi cá cảnh, thủy sinh. Một bể thủy sinh đặt trong phòng vừa không tốn nhiều diện tích vừa tạo nên vẻ tự nhiên, thanh lịch, sang trọng cho ngôi nhà.
Ngoài ra trong ngũ hành bể thủy sinh tượng trưng cho nguyên tố thủy. Đây là yếu tố tượng trưng cho sự dồi dào, thịnh vượng và may mắn, mang lại nét phong thủy cho chủ gia đình. Hiện nay để đáp ứng nhu cầu về bể thủy sinh, có rất nhiều cửa hàng đã nhập khẩu về Việt Nam những giống cây thủy sinh đẹp, đặc trưng và đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Trong đó nổi bật phải kể đến những loài cây như cây Trân Châu, cây Rau má và đặc biệt là cây Rau thơm thủy sinh.
Để nhân giống những loại cây này có nhiều phương pháp như sử dụng hạt giống tự nhiên, dùng mầm phụ sinh hoặc cắt cắm,… Tuy nhiên những phương pháp này đều có hệ số nhân thấp, cây có hiện tượng thoái hóa, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, từ đó làm giảm năng suất và chất lượng cây thủy sinh được nhân giống. Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật đã trở thành một phương pháp nhân giống được áp dụng rộng rãi cho các loại cây trồng bởi khả năng nhân giống với hệ số nhân cao và giá thành hợp lý. Đây chính là một trong những biện pháp tốt để cải thiện tình hình nhân giống cho các loài cây thủy sinh. 1 Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu quy trình nhân nhanh in vitro cây rau thơm thủy sinh (Staurogyne repens (Nees) Kuntze)”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Bước đầu xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro cây Rau thơm thủy sinh. Yêu cầu - Xác định được sự ảnh hưởng của BA đến quá trình nhân nhanh chồi in vitro (đoạn thân mang mắt ngủ cây rau thơm thủy sinh). - Xác định sự ảnh hưởng của BA và IAA, BA và TDZ đến quá trình nhân nhanh chồi in vitro cây Rau thơm thủy sinh.
- Xác định sự ảnh hưởng của IAA và TDZ đến quá trình nhân nhanh chồi in vitro cây Rau thơm thủy sinh. - Xác định sự ảnh hưởng của BA và α-NAA đến quá trình ra rễ chồi in vitro cây Rau thơm thủy sinh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây Rau thơm thủy sinh 2.
Nguồn gốc Cây Rau thơm thủy sinh có tên khoa học là Staurogyne repens (Nees) Kuntze. Tên loài được miêu tả khoa học lần đầu tiên năm 1891. Đây là một loài thuộc chi Staurogyne (họ Acanthaceae). Quần thể thực vật của loài này có nguồn gốc từ Rio Cristalino ở bang Mato Grosso của Brazil.
Cây được tìm thấy mọc giữa các tảng đá trên bờ sông có dòng chảy nhanh, thường ở trên mực nước và có đầy đủ ánh nắng mặt trời. Năm 2008 cây Rau thơm thủy sinh được giới thiệu như một loài cây thủy sinh mới. Trên thế giới loài cây này được biết đến với tên gọi Staurogyne spec. hoặc Staurogyne sp.
Tuy nhiên, vào năm 2010, Tiến sĩ Dieter C. Wasshausen đã xác định đây là cây có hoa dạng thảo, theo Christel Kasselmann có tên gọi là Staurogyne repens (Nees) Kuntze. Hệ thống phân loại thực vật Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ Hoa môi (Lamiales) Họ Ô rô (Acanthaceae) Phân họ Ô rô (Nelsonioideae) Chi Nhụy Thập (Staurogyne) Tên khoa học của cây rau thơm thủy sinh là: Staurogyne repens (Nees) Kuntze. Trên thế giới, họ Ô rô (Acanthaceae) có khoảng 220 đến 240 chi với 3500 đến 4000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là Nam và 3 Đông Nam Á, châu Phi, Brazil và Trung Mỹ.
Trong đó chi Nhụy Thập (Staurogyne) được biết đến với 149 loài. Ở Việt Nam, họ Ô rô là một trong những loài có số lượng nhiều và đa dạng nhất với 42 chi và gần 200 loài. Theo Trần Kim Liên (2005), chi Nhụy Thập ở Việt Nam có khoảng 25 loài. Đặc điểm thực vật.
Cây rau thơm thủy sinh (Nguồn: thuysinhasin.com) Thân: Cây rau thơm thủy sinh thuộc dạng thân thảo, nhỏ, có lông tơ, có nhiều đốt, giòn, cây dạng đứng hoặc dạng bò tùy vào điều kiện môi trường sống. Kích thước cây thấp khoảng 5-10 cm, tán cây rộng 3-5 cm. Rễ: Rễ của cây rau thơm thủy sinh thuộc dạng rễ chùm, rễ ít ăn sâu mà tập trung phát triển theo bề mặt chiều ngang. Lá: Lá của cây rau thơm thủy sinh có dạng nguyên, dài, ngọn lá nhọn, mọc đối xứng.
Phiến lá nhỏ, mỏng, màu xanh nhạt. Khi được trồng trên cạn lá có màu đậm hơn. 4 Hoa: Hoa cây rau thơm thủy sinh là hoa lưỡng tính, có màu trắng nhạt. Hoa từ bốn đến năm cánh bao lấy nhị và nhụy.
Một số giống có hoa màu hồng nhạt. Thông thường chỉ có những ngọn cây vươn lên khỏi mặt nước mới bắt đầu quá trình ra hoa. Hoa cây rau thơm thủy sinh (Nguồn: www.com/photos/andrastundik/6933130463) Đặc điểm của cây rau thơm thủy sinh: Đây là cây sống quanh năm, mọc thành từng cụm thấp từ 5-10 cm. Cây có thể trồng ngập nước, trồng bán cạn hoặc trồng cạn đều được.
Cây phân thành nhiều cành, nhánh, mỗi nhánh có nhiều đốt, mỗi đốt có một cặp lá đối xứng. Thời gian sinh trưởng tùy vào điều kiên môi trường. Khi ngập hoàn toàn trong nước cây có xu hướng đẻ nhánh và phát triển thẳng đứng ngoi lên bề mặt nước. Điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Cây thuộc vùng nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển từ 22-30℃, cây vẫn có thể sinh trưởng phát triển bình thường trong phạm vi nhiệt độ 10-35℃.
Nếu nhiệt độ thấp hơn 10℃ hoặc cao hơn 35℃ 5 cây phát triển kém, thậm chí ngừng quang hợp dẫn đến tổn thương sinh lý và chết. Độ ẩm: Cây ưa độ ẩm cao từ 80-100%. Nếu độ ẩm thấp cây dễ bị héo, cháy lá và sinh trưởng kém. Độ pH: Cây sinh sống trong nước ngọt, độ pH từ 5-8.
Nếu nguồn nước bị nhiễm mặn hoặc nhiễm phèn cây sẽ rất khó sinh trưởng. Thổ nhưỡng: Cây không yêu cầu khắt khe về đất trồng, phần lớn loại đất cây đều có thể sinh trưởng được. Ánh sáng: Cây rau thơm thủy sinh là loại cây ưa sáng. Cây có thể chịu được ánh sáng trung bình, nhưng cây lúc này sẽ có xu hướng vươn thẳng lên hơn là bò, ngoài ra lá cây ở dưới cũng sẽ chuyển dần sang màu vàng nếu thiếu sáng quá lâu.
Dinh dưỡng: Cây cần một lượng dinh dưỡng tương đối lớn. Khi trồng trong bể thủy sinh nên sử dụng phân nền và cung cấp CO2 để cây phát triển xanh tốt. Tổng quan về cây thủy sinh và thú chơi thủy sinh cá cảnh 2. Tổng quan về cây thủy sinh trên thế giới Nuôi cá trong môi trường nhân tạo đã tồn tại từ nhiều thế kỷ.
Thời La Mã cổ đại, con cá đầu tiên được mang vào trong nuôi nhà là một loài cá chép, nó được để dưới gầm giường của khách trong một bình cẩm thạch nhỏ. Với sự xuất hiện của thuỷ tinh vào năm 50, người La Mã thay thế bằng một vách cẩm thạch để cải thiện tầm nhìn. Năm 1369, Hoàng Đế Trung Hoa tên là Hongwu thành lập một xưởng sản xuất gốm sứ để làm những chậu gốm lớn để nuôi cá vàng, theo thời gian, những chiếc bình gốm này được thay thế bằng những chén gốm hiện đại hơn. 6 Năm 1836, không lâu sau phát minh chiếc hộp của Ward, ông đề nghị sử dụng chiếc hộp của ông để nuôi thú, mặc dù chỉ trồng cây thủy sinh và cá giả.
Năm 1838, Felix Dujardin thông báo đã sở hữu hồ nước biển, cho dù ông đã không cho biết thời hạn nuôi. Năm 1846, Anne Thynne đã duy trì được hồ san hô và rong biển trong gần 3 năm, ông được tín nhiệm như là người đầu tiên tạo sự cân bằng của hồ thủy sinh ở London. Vào cùng thời gian này, Robert Warington thí nghiệm hồ 13 gallon nước (hơn 50l) chứa cá vàng, cỏ đuôi rắn và ốc sên, ông đã tạo nên một hồ thủy sinh ổn định nhất và đưa lên tạp chí Chemical Society năm 1850. Đến năm 1908, tại Hồ Detroit, công viên đảo Belle, nuôi cá trong hồ trở thành thú chơi phổ biến và nhanh chóng lan rộng.
Tại Anh Quốc, thú chơi này cũng trở nên phổ biến sau khi được trang trí lộng lẫy trong những khung bằng sắt ở triển lãm Great Exhibition năm 1851. Năm 1853, một hồ thủy sinh lớn đầu tiên được thành lập ở vườn thú London được biết tên là Fish House. Năm 1854, tại nước Đức, 2 đề mục về hồ nước biển được đăng trên tạp chí The Garden House với tựa là “The Ocean on the Table” của một tác giả vô danh. Tuy nhiên, năm 1856 “The Lake in a Glass” được xuất bản đã thảo luận về hồ nước ngọt, một cách dễ hơn nhiều để giữ ổn định đất trồng.
Suốt thập niên 1870, vài hội thủy sinh ra đời tại Đức, theo sau đó là ở Mỹ. Năm 1858, “The Family Aquarium” của Herry D. Butler là một trong những quyển sách đầu tiên viết về hồ thủy sinh được bán tại Mỹ. Hội thủy sinh đầu tiên được thành lập ở NewYork City năm 1893, sau đó là một vài hội khác cũng được ra đời.
Vào kỷ nguyên Victory ở Anh Quốc, thiết kế thông thường cho hồ thuỷ sinh gia đình là mặt kiếng phía trước, các mặt còn lại làm bằng gỗ được dán bằng nhựa đường để kín nước. Đáy được làm bằng đá phiến được làm ấm bên dưới. Các hệ thống hồ tiến bộ hơn được thiết kế bằng kiếng và khung kim loại 7 bao xung quanh. Trong suốt nửa cuối thế kỉ 19, nhiều kiểu thiết kế hồ được sang tạo như treo hồ trên tường, viền trang trí như một phần của cửa sổ hay thậm chí kết hợp với chuồng nuôi chim.
Hồ thuỷ sinh nhanh chóng phát triển khắp thế giới nhất là sau cuộc cách mạng điện tử sau thế chiến thứ I. Điện tử đã cải thiện rất nhiều kỹ thuật làm hồ thuỷ sinh, cho phép đưa ánh sáng nhân tạo cũng như khí CO2 vào hồ, lọc nước và làm ấm nước. Bao bì nhựa ra đời vào thập niên 1950 tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận chuyển các loại cá. Ngay cả cũng xuất hiện vận chuyển bằng đường hàng không, đặc biệt là đường thuỷ để vận chuyển xa hơn tới những người mới chơi .