Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm và suy thoái môi trường trong những thập kỷ gần đây đã trở thành vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch cùng các hoạt động sản xuất nông - công nghiệp và giao thông vận tải đã gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu "phát triển bền vững" — khái niệm được xác định là sự thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai. Trước thực trạng các giải pháp kỹ thuật đơn thuần chưa đem lại hiệu quả triệt để, việc nâng cao đạo lý, ý thức trách nhiệm và tình cảm môi trường thông qua giáo dục môi trường (GDMT) được xác định là biện pháp nền tảng và có tính chiến lược lâu dài.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc Trung học phổ thông (THPT) giữ vị trí trung tâm trong việc đào tạo thế hệ trẻ. Môn Hóa học là khoa học thực nghiệm có mối liên hệ mật thiết với đời sống, môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, tạo điều kiện thuận lợi để tích hợp kiến thức môi trường và giải thích bản chất các quá trình hóa sinh học gây ô nhiễm. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học thời điểm nghiên cứu cho thấy phần lớn giáo viên phổ thông chỉ dừng lại ở việc thuyết trình các kiến thức môi trường đơn giản, thiếu phương tiện trực quan và chưa khai thác hiệu quả thế mạnh của công nghệ thông tin. Nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh và đa dạng hóa hình thức truyền tải, đề tài "Website Hóa học và môi trường" đã được tác giả Nguyễn Trần Đông Quý thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Bình tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (niên khóa 2003–2007).
Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu:
- Xây dựng một website phục vụ công tác GDMT qua môn Hóa học ở trường phổ thông.
- Góp phần đa dạng hóa các hình thức GDMT.
- Đưa hoạt động GDMT gắn liền với thực tế cuộc sống.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của môi trường, ô nhiễm môi trường, các tác động đến con người và sinh vật, đề xuất các biện pháp xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc GDMT ở trường phổ thông, đặc biệt là thông qua môn Hóa học.
- Giới thiệu về Website và một số công cụ thiết kế web phổ biến.
- Thiết kế Website "Hóa học và môi trường" nhằm cung cấp hệ thống tư liệu GDMT phục vụ chương trình Hóa học lớp 10 với hình ảnh minh họa và thông tin cập nhật.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục môi trường thông qua chương trình Hóa học lớp 10.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức GDMT qua môn Hóa học, trọng tâm là hình thức thiết kế và ứng dụng website.
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung GDMT tích hợp trong chương trình Hóa học nâng cao lớp 10 THPT.
- Giả thuyết khoa học: Nếu phối hợp tốt Website với các hình thức GDMT khác có thể cung cấp cho giáo viên và học sinh kiến thức môi trường phong phú, góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDMT ở trường phổ thông và đem lại lợi ích cho toàn xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa chuẩn tắc và các văn kiện chính thống về khoa học môi trường và giáo dục học:
- Khung khái niệm và pháp lý về môi trường: Tác giả trích dẫn định nghĩa môi trường từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), thuật ngữ gốc tiếng Anh (environment), tiếng Pháp (environnement), tiếng Trung (hoàn cảnh); đồng thời căn cứ theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (Chương I, Điều 1). Cấu trúc môi trường tự nhiên được phân lập thành môi trường vật lý (khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, sinh quyển) và môi trường sinh vật cùng các chu trình sinh - địa - hóa (carbon, nitơ, photpho, lưu huỳnh).
- Khung lý luận về Giáo dục môi trường: Khóa luận viện dẫn các văn kiện quốc tế và trong nước, bao gồm: Văn bản Hội nghị Tbilisi (UNESCO-UNEP, 1977), Tuyên ngôn Tbilisi (UNESCO-UNEP, 1978), tài liệu của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 1998), Cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (1999), cùng giáo trình của Lê Kim Long.
- Mô hình dạy và học GDMT: Dựa trên mô hình tương tác 3 chiều: Giáo dục về môi trường (cung cấp tri thức, dữ liệu, sự kiện) – Giáo dục vì môi trường (hình thành thái độ, chuẩn mực đạo lý, khả năng phán xét và ra quyết định) – Giáo dục trong môi trường (hoạt động thực tiễn, trải nghiệm trực tiếp). Hệ thống GDMT hướng tới 5 mục tiêu tương hỗ: Kiến thức, Nhận thức, Kỹ năng, Thái độ, Sự tham gia.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:
- Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: Khảo sát, tổng hợp sách báo, tài liệu chuyên ngành về hóa học môi trường, GDMT và chương trình sách giáo khoa Hóa học 10 nâng cao; tra cứu dữ liệu số liệu từ mạng Internet.
- Phương pháp tin học và thiết kế hệ thống: Khảo sát các công cụ tạo lập website để xây dựng kiến trúc thông tin, lập trình giao diện và xuất bản tài nguyên trực tuyến.
- Phương pháp sư phạm tích hợp: Xây dựng môđun dạy học và thiết kế các giáo án mẫu lồng ghép kiến thức môi trường theo 2 phương thức: Tích hợp nội dung và Lồng ghép cục bộ.
- Nguồn dữ liệu thực chứng: Dữ liệu trích dẫn từ Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương, Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Cục Kiểm lâm và Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp (Đại học Xây dựng Hà Nội), Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), cùng số liệu dịch tễ học từ các bệnh viện (Bạch Mai, Thanh Nhàn, Từ Dũ, Bệnh viện Tây Ninh).
Nội dung chính theo từng chương
Phần Nội dung - A: Môi trường và Giáo dục Môi trường
Chương I - Giáo dục môi trường
Chương này trình bày toàn diện hai mảng tri thức: cơ sở khoa học môi trường và lý luận giáo dục môi trường.
1. Môi trường và hóa học môi trường:
Tác giả phân tích 3 chức năng cốt lõi của môi trường sống (không gian sống của con người, nơi cung cấp tài nguyên, nơi chứa đựng phế thải), đồng thời phản ánh tình trạng quá tải không gian khi diện tích đất bình quân đầu người giảm mạnh từ 75 ha/người (năm 0 Công lịch) xuống còn 1,5 – 1,875 ha/người hiện nay. Văn bản phân tích sâu các dạng ô nhiễm và nguồn phát thải:
- Nguồn ô nhiễm năng lượng và công nghiệp: Năm 1983, thế giới tiêu thụ 10,5 × 10⁹ tấn than quy ước. Tại Mỹ, lượng chất thải rắn hàng năm đạt 160 tỉ tấn (gồm 60 tỉ tấn vỏ đồ hộp, 34 tỉ tấn chai lọ). Theo UNEP (1985), thế giới có hơn 40 triệu hóa chất, mỗi năm tăng thêm 30.000 chất mới và có khoảng 60.000 chất được sử dụng phổ biến. Văn bản dẫn chứng danh mục 24 chất cực kỳ nguy hiểm đối với khí quyển do các ủy ban bảo vệ môi trường và sức khỏe của Mỹ công bố năm 1978.
- Hậu quả chất độc hóa học chiến tranh: Giai đoạn 1961–1965, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam 284.000 tấn hóa chất độc hại, chứa 190 kg dioxin (2,3,7,8-TCDD) trên diện tích 1,7 triệu ha (chiếm 12% đất rừng và 5% đất canh tác). Dioxin có chu kỳ bán hủy 10–12 năm trong đất và 5–8 năm trong cơ thể người. Khảo sát tại 3 xã (Hương Phú, Hương Trà, Thuận Điền thuộc huyện Giồng Trôm, Bến Tre) và 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa cho thấy tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể ở trẻ sơ sinh cao gấp 6–15 lần, người lớn gấp 9 lần bình thường. Bệnh viện Từ Dũ ghi nhận tỷ lệ thai chết lưu tăng 2 lần, chửa trứng và ung thư rau tăng 4,6%, dị tật bẩm sinh và quái thai tăng hơn 3 lần; Bệnh viện Tây Ninh ghi nhận 57 ca dị tật bẩm sinh trong 3 năm.
- Ô nhiễm nông nghiệp và thực phẩm: Việt Nam sử dụng 15.000 – 20.000 tấn thuốc trừ dịch hại và bảo vệ thực vật/năm. Lượng phân bón NPK sử dụng bình quân ở mức 62,7 kg/ha (năm 1985) và 73,5 kg/ha (năm 1990), một số vùng thâm canh cao dùng tới 372,5 kg/ha (vượt mức bình quân thế giới 95,4 kg/ha). Hiệu suất phân bón thấp dẫn đến dư thừa trực tiếp trên 50% lượng đạm, 50% kali và khoảng 80% lân gây chua đất. Năm 2004, cả nước xảy ra 145 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.580 người mắc và 41 ca tử vong.
- Ô nhiễm không khí và dịch tễ học: Khí thải giao thông đô thị tại Việt Nam chiếm 70–90% tổng lượng CO và hydrocacbon (CnHm). WHO (2001) chỉ ra ô nhiễm không khí trong nhà gây ra 33,7% trường hợp viêm đường hô hấp. Số liệu nghiên cứu dịch tễ học tại Việt Nam cho thấy tác động rõ rệt giữa ô nhiễm và bệnh tật:
| Nhóm bệnh / Triệu chứng lâm sàng |
Tỷ lệ mắc tại vùng ô nhiễm Thượng Đình (%) |
Tỷ lệ mắc tại vùng đối chứng (%) |
| Viêm đường hô hấp trên |
36,1 |
Thấp hơn có ý nghĩa thống kê |
| Viêm đường hô hấp dưới |
17,9 |
Thấp hơn có ý nghĩa thống kê |
| Triệu chứng về mắt (Hội chứng SBS) |
28,5 |
Thấp hơn có ý nghĩa thống kê |
| Triệu chứng về mũi (Hội chứng SBS) |
17,5 |
Thấp hơn có ý nghĩa thống kê |
Giai đoạn 2001–2003, Bệnh viện Thanh Nhàn điều trị cho 4.908 trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh hô hấp do ô nhiễm không khí; tại Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,2%.
- Ô nhiễm nước và suy thoái đất: Nước mặt nội thành Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng vượt tiêu chuẩn loại B theo TCVN 5942-1995 từ 5–10 lần. Nước ngầm Hà Nội có 71% mẫu nhiễm photphat vượt ngưỡng. Tại KCN Phước Long, hàm lượng Cr trong đất cao gấp 15 lần tiêu chuẩn, Cd gấp 1,5–5 lần, As gấp 1,3 lần. Thống kê của cơ quan chức năng cho biết Việt Nam có 7.000.000 ha đất trống đồi trọc bị thoái hóa/đá ong hóa mạnh, 400.000 ha cồn cát di động miền Trung, 120.000 ha đất xói mòn ở Tây Nguyên và Tây Bắc, 30.000 ha đất phèn mặn ĐBSCL, và 300.000 ha đất khô hạn Nam Trung Bộ.
- Ô nhiễm tiếng ồn và bức xạ phóng xạ: Thang cường độ âm thanh Alfred Bell (dB) chỉ rõ mức ồn nơi làm việc/sinh hoạt không được vượt quá 80 dB (gây ức chế thần kinh, tăng huyết áp tâm trương), ngưỡng an toàn là 40–45 dB. Về phóng xạ, liều chiếu 2 rem/năm suốt đời làm tăng 10% tỷ lệ chết vì ung thư; tăng gấp đôi liều bức xạ làm tăng 20% số ca quái thai; tiêu chuẩn an toàn cho công nhân ngành hạt nhân là không quá 3 rem/năm.
- Tai biến thiên nhiên và sự cố môi trường: Giai đoạn 2004–2005 ghi nhận bão số 6 gây thiệt hại 350 tỷ đồng (Nam Định thiệt hại 131 tỷ đồng), bão số 7 (Damrey) mạnh nhất trong 9 năm; lũ quét Yên Bái (9/2005) gây thiệt hại trên 65 tỷ đồng; dịch cúm gia cầm A/H5N1 qua 3 đợt tiêu hủy trên 45 triệu con và ghi nhận 92 ca mắc trên người (42 ca tử vong tính đến tháng 9/2005); 5 sự cố tràn dầu trên biển (thải ra 693,4 m³ dầu DO và 600 tấn dầu FO); hiện tượng thủy triều đỏ do tảo độc tại Đồi Dương (Phan Thiết) từ ngày 28/7 đến 4/8/2005.
2. Lý luận giáo dục môi trường:
Tác giả hệ thống hóa 10 nguyên tắc chung của GDMT và các nguyên tắc cụ thể trong trường phổ thông theo Tuyên ngôn Tbilisi (1978). Phân tích 2 kiểu tổ chức GDMT tại trường THPT:
- Kiểu 1 - Qua chương trình môn học chính khóa: Áp dụng cho các nội dung trùng hợp hoàn toàn (Dạng 1) hoặc liên quan trực tiếp (Dạng 2), thực hiện qua 2 phương thức: Tích hợp (kết hợp hữu cơ, hệ thống) hoặc Lồng ghép (bổ sung đoạn trích, câu hỏi môi trường vào bài học).
- Kiểu 2 - Qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: Báo cáo chuyên đề, câu lạc bộ, tham quan dã ngoại, xanh hóa trường học, dự án hành động theo quy trình 5 bước chặt chẽ (Chọn hình thức $\rightarrow$ Thiết kế hoạt động $\rightarrow$ Báo cáo xin phép $\rightarrow$ Triển khai thực hiện $\rightarrow$ Đánh giá, tổng kết).
Chương II - Giáo dục môi trường thông qua chương trình Hóa học THPT
Chương này đối chiếu khung lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy bộ môn Hóa học lớp 10:
- Phân tích cấu trúc chương trình Hóa học 10 THPT nhằm nhận diện các chương, bài có tiềm năng GDMT cao (như các chuyên đề về cấu tạo nguyên tử - đồng vị phóng xạ, nhóm Halogen, nhóm Oxi - Lưu huỳnh, tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học).
- Đề xuất các phương pháp sư phạm chuyên biệt khi tích hợp GDMT trong giờ dạy Hóa học: phương pháp dùng lời kết hợp tư liệu thực tế, phương pháp trực quan hóa số liệu ô nhiễm, phương pháp giải bài tập hóa học gắn với bối cảnh môi trường địa phương.
Phần Nội dung - B: Thiết kế Website Hóa học Môi trường
Chương I - Website và thiết kế Website
Trình bày các khái niệm cơ bản về mạng thông tin toàn cầu, trang web, máy chủ lưu trữ và chỉ rõ các ưu thế của website trong giáo dục: khả năng chứa lượng dữ liệu lớn, tính tương tác đa chiều, hỗ trợ học tập mọi lúc mọi nơi và trực quan hóa tư liệu. Đồng thời tổng quan các công cụ thiết kế website phổ biến tại thời điểm nghiên cứu.
Chương II - Nội dung Website
Trình bày thiết kế chi tiết hệ thống giao diện và cấu trúc cơ sở dữ liệu của website "Hóa học và môi trường", bao gồm các phân hệ chính:
- Giao diện trang chủ
- Tư liệu Hóa học và Môi trường (phân loại theo chuyên đề lý thuyết, hiện trạng ô nhiễm, hóa chất độc hại)
- Diễn đàn trao đổi thảo luận
- Tin tức môi trường và Liên kết tài nguyên học thuật
Chương III - Phối hợp các phương pháp giáo dục môi trường thông qua Website
Chương này cụ thể hóa việc ứng dụng website vào tiến trình dạy học bộ môn:
- Thiết kế môđun GDMT: Trình bày định nghĩa, cấu trúc, đặc trưng và chức năng của môđun dạy học; thiết lập quy trình xây dựng môđun GDMT tự học trên nền web.
- Hệ thống giáo án mẫu lồng ghép: Soạn thảo các bài lên lớp cụ thể thuộc chương trình Hóa học 10 nâng cao có lồng ghép kiến thức môi trường (như bài về Ozon, Hiệu ứng nhà kính, Mưa axit, Hóa chất bảo vệ thực vật).
- Tích hợp tư liệu đa phương tiện và hoạt động ngoại khóa: Khai thác kho ảnh, dữ liệu mô phỏng trên website để tổ chức hoạt động ngoại khóa và dự án thực hành môi trường.
Thiết kế và triển khai
Căn cứ nội dung phần B của khóa luận, hệ thống website và phương pháp sư phạm được thiết kế và triển khai theo các thông số cấu trúc sau:
[Hệ thống Website Hóa học và Môi trường]
- Cấu trúc chức năng Website: Website được thiết kế làm cổng thông tin hai chiều phục vụ cả giáo viên và học sinh phổ thông. Trang web cung cấp giao diện trực quan, phân mục rõ ràng từ tài liệu tham khảo khoa học, các văn bản pháp lý về môi trường, đến các báo cáo số liệu thực tế tại Việt Nam.
- Quy trình thiết kế môđun GDMT: Mỗi môđun GDMT trên website được xây dựng như một đơn vị học tập độc lập gồm: Mục tiêu kiến thức/kỹ năng $\rightarrow$ Nội dung thông tin cốt lõi $\rightarrow$ Tư liệu hình ảnh/sự kiện thực tế $\rightarrow$ Câu hỏi lượng giá, định hướng thái độ và hành động bảo vệ môi trường.
- Quy trình triển khai bài dạy lồng ghép: Trong giáo án bài lên lớp, tác giả chỉ rõ các điểm tích hợp nội dung:
- Khâu mở bài/chuyển tiếp: Sử dụng số liệu hoặc sự cố môi trường từ website làm tình huống có vấn đề.
- Khâu hình thành kiến thức mới: Khai thác tính chất hóa học để giải thích cơ chế gây ô nhiễm (như cơ chế CFC phá hủy tầng ozon, SO₂ và NO₂ tạo mưa axit, dư lượng ion nitrit và phân bón trong đất/nước).
- Khâu củng cố/vận dụng: Hướng dẫn học sinh truy cập diễn đàn website để tự nghiên cứu, làm việc nhóm và thảo luận giải pháp khắc phục.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu thực nghiệm: Khóa luận đã thu thập, xử lý và hệ thống hóa một khối lượng lớn dữ liệu định lượng chính thống về thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam (ô nhiễm không khí đô thị, ô nhiễm các thủy vực, suy thoái đất, dịch bệnh H5N1, dioxin chiến tranh, sự cố tràn dầu).
- Xây dựng sản phẩm ứng dụng CNTT cụ thể: Thiết kế hoàn chỉnh cấu trúc và nội dung cho Website "Hóa học và môi trường", tạo ra kho học liệu điện tử hữu ích giúp giáo viên và học sinh tiếp cận kiến thức môi trường cập nhật thay vì chỉ phụ thuộc vào sách giáo khoa.
- Đóng góp về phương pháp luận giảng dạy: Đề xuất quy trình thiết kế môđun GDMT và hệ thống bài soạn minh họa cho chương trình Hóa học nâng cao lớp 10, phân định rõ ràng 2 phương thức đưa kiến thức môi trường vào bài học (Tích hợp và Lồng ghép), hỗ trợ tích cực cho tiến trình đổi mới phương pháp dạy học thời điểm 2007.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Căn cứ nội dung và phạm vi nghiên cứu được công bố, đề tài mới chỉ tập trung xây dựng tư liệu và giáo án lồng ghép cho phạm vi chương trình Hóa học nâng cao lớp 10 THPT. Về mặt công nghệ, website được xây dựng trong điều kiện hạ tầng kỹ thuật năm 2007 nên các tính năng tương tác trực tuyến và tính tương thích trên các nền tảng mạng còn giới hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc biên soạn môđun GDMT và thiết kế giáo án tích hợp cho toàn bộ chương trình Hóa học THPT (lớp 11 và lớp 12); nâng cấp giao diện, tính năng tương tác đa phương tiện của website và tiến hành thực nghiệm sư phạm đối chứng diện rộng để đánh giá định lượng sự chuyển biến về nhận thức và kết quả học tập của học sinh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Giáo viên môn Hóa học tại các trường THPT: Tham khảo phương pháp xây dựng giáo án lồng ghép GDMT, cấu trúc môđun dạy học và khai thác tư liệu thực tế (bảng số liệu ô nhiễm, sự cố môi trường) để đưa vào bài giảng.
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học và Cử nhân Hóa môi trường: Cung cấp tài liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu tích hợp liên ngành giữa Hóa học thực nghiệm, Khoa học môi trường và Lý luận dạy học bộ môn.
- Cán bộ nghiên cứu phát triển chương trình và ứng dụng CNTT giáo dục: Tham khảo mô hình thiết kế website học tập chuyên đề và các nguyên tắc sư phạm tích hợp theo khuyến nghị của UNESCO-UNEP.
Câu hỏi thường gặp
1. Mô hình dạy học GDMT trong khóa luận bao gồm những khía cạnh nào?
Khóa luận xác định việc dạy học GDMT diễn ra theo mô hình tương tác 3 chiều song song: (1) Giáo dục về môi trường (cung cấp tri thức, số liệu, sự kiện môi trường); (2) Giáo dục vì môi trường (hình thành thái độ quan tâm, đạo lý, khả năng phán xét và ra quyết định bền vững); (3) Giáo dục trong môi trường (tạo cơ hội học tập trải nghiệm thực tiễn, rèn luyện kỹ năng hành động).
2. Hai phương thức đưa nội dung GDMT vào môn Hóa học THPT được phân biệt như thế nào?
Văn bản phân định rõ 2 phương thức:
- Tích hợp: Kết hợp một cách có hệ thống kiến thức môn Hóa học với kiến thức GDMT thành một thể thống nhất hữu cơ (áp dụng khi bài học có nội dung trùng hợp với vấn đề môi trường).
- Lồng ghép: Lắp ráp vào nội dung bài giảng hiện hành một đoạn, một mục nhỏ hoặc một số câu hỏi liên hệ thực tiễn về GDMT.
3. Khóa luận dẫn chứng số liệu nào về hậu quả của chất độc hóa học dioxin do Mỹ rải xuống miền Nam Việt Nam?
Giai đoạn 1961–1965, khoảng 284.000 tấn hóa chất độc chứa 190 kg dioxin đã bị rải xuống 1,7 triệu ha đất miền Nam. Khảo sát tại Bến Tre, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa cho thấy tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể ở trẻ sơ sinh cao gấp 6–15 lần, người lớn gấp 9 lần bình thường. Tại Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ thai chết lưu tăng 2 lần, chửa trứng và ung thư rau tăng 4,6%, dị tật bẩm sinh/quái thai tăng gấp 3 lần.
4. Dữ liệu khảo sát dịch tễ học tại khu công nghiệp Thượng Đình (Hà Nội) cho kết quả như thế nào về tỷ lệ mắc bệnh hô hấp?
Khảo sát so sánh chỉ ra tỷ lệ dân cư sống cạnh khu công nghiệp Thượng Đình mắc bệnh viêm đường hô hấp trên là 36,1%, viêm đường hô hấp dưới là 17,9%, triệu chứng về mắt thuộc hội chứng SBS là 28,5% và triệu chứng về mũi là 17,5% — đều cao hơn rõ rệt so với vùng đối chứng.
5. Giới hạn tiếng ồn an toàn và ngưỡng gây biến đổi bệnh lý được văn bản xác định ở các mức nào?
Theo thang đo decibel (dB), mức ồn an toàn trong môi trường sống không gây biến động đáng kể là 40–45 dB; mức ồn từ 50 dB trở lên tại khu dân cư bắt đầu gây rối loạn thần kinh vỏ não; mức 80 dB bị nghiêm cấm ở nơi thường xuyên có người vì làm giảm chú ý, gây mệt mỏi, hạ huyết áp tâm thu và tăng huyết áp tâm trương; mức 140 dB là ngưỡng chói tai và từ 150 dB trở lên có thể gây rách màng nhĩ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Website Hóa học và môi trường" của tác giả Nguyễn Trần Đông Quý là công trình nghiên cứu nghiêm túc, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý thuyết khoa học môi trường, lý luận dạy học bộ môn và công nghệ thông tin. Tác giả đã hệ thống hóa nguồn tư liệu số liệu thực chứng phong phú về hiện trạng môi trường Việt Nam, đồng thời xây dựng thành công giải pháp website hỗ trợ dạy học cùng hệ thống môđun, giáo án tích hợp mẫu cho chương trình Hóa học 10 nâng cao. Công trình đóng góp thiết thực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục môi trường trong trường phổ thông.