chương 1 trình GDMT chưa được triển khai một cách thống nhất, rộng khắp trong cả nước, chưa trở thành nội dung bắt buộc và chưa được coi là một tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trong nhà trường…. Những tồn tại trên là phổ biến ở hầu hết các trường THPT trong cả nước. Đặc biệt đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc thì những hạn chế đó được bộc lộ khá rõ bởi những điều kiện chủ quan và khách quan của các nhà trường nơi đây. Là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, Huyện Sông Lô được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày mùng 1/4/2009.
Là huyện mới nên điều kiện kinh tế - xã hội, giáo dục của huyện còn gặp rất nhiều khó khăn. Công tác giáo dục nói chung và GDMT tại các trường THPT nói riêng trên địa bàn huyện chưa được quan tâm đúng mức và còn nhiều tồn tại, bất cập: Hoạt động DGMT ở các trường THPT nơi đây mới chỉ mang tính chất phong trào, chưa có biện pháp hiệu quả; đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về hệ thống nghiệp vụ và chuyên môn trong công tác GDMT… làm cho công tác GDMT của các nhà trường nơi đây chưa đạt đạt được hiệu quả cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn GDMT hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục được những tồn tại, bất cập và nâng cao được chất lượng công tác GDMT ở các nhà trường nói chung và các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô nói riêng? Đây chính là lý do khiến chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Giáo dục môi trƣờng cho học sinh các trƣờng THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác GDMT cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc.
Đề tài xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và các nhà trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô -Vĩnh Phúc. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDMT cho học sinh THPT. - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT. - Đối tượng khảo sát: Điều tra lấy ý kiến của 117 giáo viên, cán bộ quản lý và 300 học sinh (100 HS khối 10, 100 HS khối 11, 100 HS khối 12) ở hai trường: THPT Bình Sơn và THPT Sáng Sơn thuộc huyện Sông Lô.
Phạm vi nghiên cứu Biện pháp giáo dục môi trường cho học sinh THPT là một vấn đề chứa đựng phạm vi rộng lớn. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu cơ sở khoa học của một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT và cách thức thực hiện các biện pháp đó về mặt lý luận. Do điều kiện và thời gian có hạn, Chúng tôi không tiến hành thực nghiệm các biện pháp nâng cao chất lượng GDMT đã đề xuất mà chỉ tiến hành khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đó trên phạm vi 2 trường THPT thuộc địa bàn huyện Sông Lô là: trường THPT Bình Sơn và trường THPT Sáng Sơn. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề GDMT cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng. Phản ánh và đánh giá thực trạng công tác GDMT ở các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh phúc, tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Giả thuyết khoa học GDMT đang được đặt ra như một vấn đề cấp bách hiện nay ở Việt Nam.
Tuy nhiên hiệu quả GDMT ở một số nhà trường nói chung và các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc nói riêng còn rất thấp. Vì vậy nếu sử dụng các biện 3 pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương theo một quy trình chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất thì sẽ hình thành cho học sinh thái độ, kỹ năng và thói quen BVMT, qua đó làm cho chất lượng GDMT của các nhà trường được tăng lên. Các phƣơng pháp nghiên cứu 7. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập và tập hợp các thông tin lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Các phương pháp cụ thể như: - Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết - Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết - Phương pháp giả thuyết - Phương pháp mô hình hóa lí thuyết 7. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (bằng ankét). - Phương pháp quan sát. - Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động. Phương pháp xử lí các số liệu bằng toán thống kê 8. Những đóng góp mới của đề tài * Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường, BVMT, GDMT cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng.
* Về mặt thực tiễn: - Phản ánh thực trạng công tác GDMT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc và chỉ ra được nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó. - Xây dựng được cơ sở khoa học và cách thức thực hiện một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.1 Giáo dục môi trường trên thế giới Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại. Bởi lẽ môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người cũng như với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã sống dựa vào môi trường tự nhiên, tồn tại nhờ những gì có sẵn trong tự nhiên. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, sự phụ thuộc của con người vào tự nhiên giảm dần và thay vào đó con người đã không ngừng tham gia vào các hoạt động cải tạo giới tự nhiên, trên cơ sở nắm bắt các quy luật của tự nhiên để phục vụ cho mục đích sinh tồn và phát triển của con người. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự bùng nổ của dân số thế giới, nhu cầu về cuộc sống của con người ngày càng nâng cao kéo theo sự ô nhiễm môi trường, nguồn tài nguyên bị suy giảm nghiêm trọng. Vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho con người đặc biệt là cho thế hệ trẻ trở nên hết sức cần thiết.
Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948, trong cuộc họp của LHQ về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên diễn ra tại Pari (Pháp) thuật ngữ “giáo dục môi trƣờng” đã được sử dụng. Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa: GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hoá, thế giới vật chất bao quanh môi trường 5 đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan tới đặc tính môi trường. Ngày 5/6/1972 LHQ đã tổ chức “Hội nghị quốc tế về Môi trường và Con người” tại Stockholm (Thụy Điển) với sự tham gia của 113 đại diện của Chính phủ các nước trên thế giới. Có thể nói đây là Hội nghị đầu tiên của nhân loại về vấn đề phát triển và môi trường.
Hội nghị đã ra bản Tuyên bố Stockholm về Môi trường và Con người gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc, trong đó nguyên tắc thứ 19 đã chỉ rõ: “GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớn tuổi, quan tâm thích đáng tới những người tàn tật là một việc làm hết sức cần thiết”. Đến ngày15/12/1972 chương trình nghiên cứu của LHQ về môi trường (UNEP) được thành lập. Sau Hội nghị Stockholm, hàng loạt các hội nghị sau đó của các tổ chức quốc tế diễn ra tại nhiều nước trên thế giới đều dành sự quan tâm rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục môi trường trong giai đoạn hiện nay: - Năm 1975, Hội nghị quốc tế về GDMT họp ở Belgrade (Nam Tư) đã khởi thảo một chương trình quốc tế về GDMT (chương trình IEEP). Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và các nguyên tắc hướng dẫn của chương trình được đưa vào một văn kiện của Hội nghị có tên là “Hiến chương Belgrade - một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT”.
Một tập hợp các mục tiêu ngắn gọn, bao quát về GDMT được đưa ra tại Belgrade có thể tóm tắt như sau: 1) Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế, xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành thị. 2) Cung cấp cho mỗi cá nhân cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị, quan niệm, trách nhiệm và các kĩ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường. 3) Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, cũng như toàn xã hội 6 - Tháng 10/1977, Hội nghị liên Chính phủ về DGMT do UNESCO tổ chức họp tại Tbilisi (thủ đô Cộng hòa Gruzia) đã đưa ra tuyên ngôn về GDMT trong đó có 41 khuyến nghị về chiến lược GDMT đối với các quốc gia. Hội nghị đã khuyến cáo mỗi nước ưu tiên thành lập một tổ chức có hiệu quả để chịu trách nhiệm triển khai GDMT.
Hội nghị cũng đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức. Sự kiện quan trọng này và những công bố tiếp theo sau hội nghị đó đã tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của hệ thống nguyên tắc GDMT trên toàn thế giới ngày nay. - Tháng 9/1980 Hội thảo khu vực châu Á Thái Bình Dương về GDMT họp tại Băngkok (Thái Lan) với 17 nước tham dự. Mục đích của hội thảo nhằm trao đổi kinh nghiệm trong DGMT ở từng nước.