Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài. Những năm đầu từ thập niên 70 của thế kỉ XIX, GDBVMT và QLHĐ GDBVMT đã được các tổ chức thế giới quan tâm.
Từ đó đến nay, với sự theo dõi của các tổ chức MT Liên hiệp quốc, GDBVMT và QLHĐ GDBVMT đã được triển khai một cách mạnh mẽ và sâu rộng. Trong những thập niển gần đây trước biến đổi của tình hình khí hậu toàn cầu, nội dung GDBVMT và QLHĐ GDBVMT đã được đưa ra thảo luận, với nhiều ý kiến tại các hội nghị quốc tế và khu vực. Các vấn đề được quan tâm và dặt lên hàng đầu là các chương trình và giải pháp GDBVMT và QLHĐ GDBVMT chung cho tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Song song với các hội nghị, hội thảo, các chương trình, chiến lược, còn có nhiều công trình nghiên cứu GDBVMT và QLHĐ GDBVMT trong các lĩnh vực xã hội, ở các khu vực.
Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: - “Vai trò của môn Khoa học trong GD vì MT” của A. Lucas, chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu GDBVMT, Trường Chelsea, Đại học London. Công trình đã chỉ ra các vấn đề cốt lõi: Một là, Nội dung GDBVMT phải được đặt ra trong yêu cầu nội dung các môn học; Hai là, Việc DH môn khoa học sẽ tăng cường bảo tồn MT sống của con người; Ba là, Việc quan tâm xây dựng nội dung học của môn học đóng vai trò quan trọng trong việc GDBVMT và được coi như một cơ sở để phát triển GDBVMT [23]. - “Sự khác nhau giữa thanh thiếu niên và người trưởng thành trong việc quan tâm đến các vấn đề MT” của J.
Công trình nghiên cứu đề cập đến sự quan tâm về các vấn đề MT của thanh thiếu niên và người trưởng 6 thành. Kết quả cho thấy, thanh thiếu niên có sự quan tâm đến các vấn đề MT nhiều hơn so với những người trưởng thành và họ cũng quan tâm nhiều hơn về những HĐ trong tương lai nhằm cải thiện MT ở thế hệ trẻ sau này. công trình nghiên cứu cũng đề cập đến giải pháp tổ chức các khóa học, các chương trình bồi dưỡng nhằm tăng cường sự quan tâm của người lớn đến các vấn đề MT mà thế giới đang đối mặt. - “GDBVMT và sự thay đổi thái độ” của R.
Công trình nghiên cứu các chương trình GDBVMT sống trải nghiệm và đã đưa ra những kiến thức liên quan đến mối quan hệ giữa con người và MT, sự phát triển của các kỹ năng và khả năng, sự phát triển tính trách nhiệm và cách ĐG MT. Công trình nghiên cứu nhằm ĐG mức độ thay đổi thái độ của con người đối với MT sau khi tham gia chương trình sống trải nghiệm với MT. Tóm lại, các công trình nghiên cứu GDBVMT và QLHĐ GDBVMT trên thế giới đã chỉ ra: Một là, nội dung các môn học được tích hợp nội dung GDBVMT sẽ có tác dụng lớn đối với việc GD HS về ý thức bảo vệ MT khi học tập môn học đó. Hai là, các nhân tố khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến thái độ của con người đối với vấn đề bảo vệ MT; thanh thiếu niên có sự quan tâm đến các vấn đề MT lớn hơn so với những người trưởng thành và họ cũng hy vọng về những HĐ trong tương lai nhằm cải thiện MT nhiều hơn người trưởng thành.
Ba là, việc xây dựng chương trình các môn học ở các cấp học cần được quan tâm và dựa trên các khái niệm về bảo tồn MT sống. Bốn là, người học khi tham gia vào các khóa học “Sống trải nghiệm với MT” sẽ giúp cho mỗi cá nhân có cơ hội học hỏi và nâng cao những kỹ năng cần thiết để đảm bảo an toàn; cảm thấy thích thú và có thái độ, hành vi đúng đắn đối với các khu vực MT sinh thái. Năm là, những kinh nghiệm được hình thành thông qua các HĐ tích cực của HS với MT có tính quyết định nhất đối với sự hình thành ý thức, mối quan tâm đến MT và các vấn đề MT. Các nghiên cứu ở trong nước.
Ở Việt Nam, vấn đề GDBVMT và QLHĐ GDBVMT đã được Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành quan tâm. Việc triển khai các văn bản chỉ đạo, tổ chức DH các nội dung có liên quan đến GDBVMT và QLHĐ GDBVMT đã thực sự sâu rộng trong các cấp ngành, các nhà trường và HS. Năm 2015, Bộ GD&ĐT đã xây dựng bộ tài liệu GDBVMT qua các môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Mỹ thuật và HĐ GD ngoài giờ lên lớp. Tài liệu nhằm tập huấn, bồi dưỡng cho GV về mục tiêu, nội dung GDBVMT trong các môn học, phương pháp và hình thức DH lồng ghép, tích hợp GDBVMT trong các môn học, cách khai thác nội dung và soạn bài để DH lồng ghép, tích hợp GD BVMT trong các môn học [2].
Nghiên cứu về GDMT và GDBVMT, đã có những công trình nghiên cứu với những nội dung tập trung vào các lĩnh vực như sau : - Về mục tiêu GD, nội dung và các biện pháp GDBVMT cho HS nói chung có một số nghiên cứu như: “Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp GDBVMT ở bậc tiểu học ở Việt Nam” của tác giả Phạm Đình Thái; “Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDBVMT cho HS tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương; “GDBVMT cho HS tiểu học qua HĐ ngoài giờ lên lớp” của tác giả Huỳnh Thị Thu Hằng. Từ nghiên cứu đó đã làm rõ mục tiêu GD và nội dung GDBVMT cho HS. Các công trình cũng đã đi vào làm sáng tỏ phương pháp DH, hình thức tổ chức chung khi đưa HS tham gia vào HĐ nhằm GDBVMT cho HS đạt hiệu quả cao. - Về vấn đề GDBVMT tích hợp trong các môn học, có các tác giả nghiên cứu như: “Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp GDBVMT qua môn Địa lý ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng; “Thực hiện GDBVMT cho HS tiểu học thông qua tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội” của Nguyễn Hồng Ngọc.
Các tác giả đã xác định phương pháp và hình thức DH cụ thể đối với từng môn học, từng bài học có nội dung GDBVMT. 8 - Về vấn đề tích hợp GDBVMT địa phương thông qua môn học, có các công trình: “GDBVMT địa phương qua môn Địa lý lớp 8 cho HS Quảng Nam - Đà Năng” của tác giả Đậu Thị Hòa “Tích hợp nội dung GDBVMT địa phương có làng nghề ở thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây trong DH môn Khoa học ở tiểu học” của tác giả Quảng Hà Hưng. Các công trình trên đã xây dựng nội dung GDBVMT địa phương để tích hợp vào DH các môn học; hướng dẫn các phương pháp, hình thức tổ chức DH để khai thác có hiệu quả những nội dung tích hợp. - Về QL HĐ GDBVMT có các công trình nghiên cứu như: “Thực trạng và các biện pháp QL công tác GDBVMN” năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhật; Tác giả Cao Hữu Công nghiên cứu “Biện pháp QL HĐ GD bảo vệ MT cho HS các trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”, luận văn QL khoa học GD năm 2015; Tác giả Lê Thị Kim Anh nghiên cứu “Biện pháp QL HĐ GD bảo vệ MT cho trẻ mẫu giáo ở trường thực hành sư phạm mầm non Hoa Hồng”, tạp chí khoa học đại học Đồng Tháp số 6, năm 2021; Tác giả Lê Thanh Hải nghiên cứu “Biện pháp QL HĐ GD bảo vệ MT cho HS tiểu học”, tạp chí khoa học đại học Văn Lang, số 28, năm 2021….
Như vậy, nghiên cứu về GDBVMT và QLHĐ GDBVMT ở Việt Nam đã tập trung nghiên cứu đạt được kết quả ở các lĩnh vực như: Một là, làm rõ mục tiêu GD, phương pháp GD, hình thức GD chung khi tổ chức GDBVMT cho HS; Hai là, phương pháp GD và hình thức GD cụ thể đối với từng môn học; Ba là, xây dựng và hướng dẫn khai thác nội dung GDBVMT địa phương trong các môn học và HĐ DH. Các biện pháp QL HĐ GDBVMT cho HS các cấp từ mầm non, tiểu học, THCS… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới tập trung ở các đối tượng và vùng miền đặc thù gắn với khách thể điều tra cụ thể. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Nói đến HĐQL, khái niệm QL được nhiều tác giả đề cập đến, tuy nhiên người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác:“Tất cả mọi lao động 9 xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự HĐ của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [5, tr180].Koontz “QL là một HĐ thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà QL là hình thành MT mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà QL là hình thành MT mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [21, tr33]. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, dựa trên các cách nhìn và khía cạch khác nhau để làm rõ nội hàm khái niệm QL: Dựa vào loại hình HĐQL, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và KT” [7, tr11].
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận QL ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học QL” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí. cho rằng: “HĐQL nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lượng mới” [5, tr176]. Như vậy, QL là một khái niệm chung, khái quát rộng đối với nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về QL nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về QL nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm cho hệ thống.