phần mở đầu, kết luận, khuyến ngh , tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh là người dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn. Thực trạng quản lý hoạt động giáo giới tính cho học sinh là người dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh là người dân tộc thiểu số ở các trường THCS vùng đặc biệt khó khăn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài A.Makarenko nghiên cứu về giáo dục giới tính đã nhấn mạnh đến việc học tập của thanh niên “học tập cách yêu đương, phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, học tập để biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” [dẫn theo 16].Makarenko kh ng đ nh đạo đức giới tính liên quan đến đạo đức xã hội, liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm về mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, xã hội: “ Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính.Kon cho rằng giáo dục giới tính nhằm chuẩn b cho nam nữ bước vào đời sống hạnh phúc gia đình và cuộc sống hôn nhân: “Chuẩn b cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính”[dẫn theo 13]. Trên thế giới, ở nước Anh, giáo dục giới tính cho trẻ em bắt đầu khi đứa trẻ trong giai đoạn độ tuổi mầm non, Pháp luật Anh quy đ nh rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc.
Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở. Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi. Từ năm 2010 trở đi, ngay cả các em 5 tuổi cũng sẽ được giảng dạy những điều căn bản về khoa học giải phẫu cũng như quan hệ nam nữ. Sở dĩ việc giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy sớm như vậy ở Anh là vì so với tất cả các nước châu u, quốc gia này hiện phá k lục về số thiếu nữ v thành niên mang thai.
Thông qua các hoạt động giáo dục giới tính v thành niên và việc s dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở v thành niên, giúp v thành niên có kỹ năng phòng chốn lạm dụng tình dục [3]. Thụy Điển lại áp dụng giáo dục giới tính qua truyền hình, đây là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em. Từ năm 1942, 6 Thụy Điển đã yêu cầu và áp dụng giáo dục giới tính cho HS, trong đó có chương trình được công nhận đầu tiên tại một trường học, đó là “Giáo dục phòng tránh thai”, nhằm trang b kiến thức mang thai và sinh con, chương trình này được giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên. Các học sinh sẽ được học về đặc tính sinh lý của nam và nữ khi lên bậc trung học.
Một bước đột phá di n ra vào năm 1966, “Giáo dục phòng tránh thai” được Thụy Điển đã chính thức đưa lên truyền hình để giúp phụ huynh giáo dục giới tính cho con, ngay từ nhỏ các em đã được trang b kiến thức về phòng tránh thai. Qua chương trình này, trẻ em Thụy Điển sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không b lạm dụng về tình dục cũng như mang thai ngoài ý muốn. Ở Mỹ, giáo dục giới tính được phân theo các cấp học. HS được giới thiệu về sự khác nhau giữa nam và nữ ở bậc tiểu học, đến cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhi m, việc mang thai…được giới thiệu cho HS một cách hệ thống.
Trong giáo dục của nước Mỹ, các nhà giáo dục đã lồng ghép nội dung giáo dục nhân cách cho HS, đó là nội dung biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới. Nội dung “tình dục an toàn” và các biện pháp tránh thai hiệu quả được các nhà giáo dục đưa vào nội dung chương trình lớp 6, lớp 7. Theo Hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Mỹ, 93 người lớn được khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84 ủng hộ tại các trường trung học. Vì bằng phương pháp này, họ cảm thấy d dàng và thoải mái hơn khi trò chuyện với con mình về tình dục [17].
Malaysia, phổ cấp giáo dục giới tính được chính phủ quan tâm và tiến hành đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, theo đó, từ khi 4 tuổi trẻ em đã đượchọc GDGT. Bộ Giáo dục, Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng phụ trách chương trình giáo dục giới tính, nội dung biên soạn chương trình giáo dục giới tính do những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ tiến hành. Những nội dung chính của chương tình này là các khóa học về phát triển con người, kiến thức sinh sản, kỹ năng giao tiếp, hôn nhân và gia đình và quan hệ tình dục an toàn. Đối với Hà Lan, giáo dục giới tính được giảng dạy ở bậc tiểu học, HS tiểu học được học những bài học về tôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính.
Thậm chí, các phụ huynh của quốc gia này còn trao đổi về chủ đề giới tính trong bữa ăn của gia đình. Do vậy, giáo dục Hà Lan được các nước trên thế giới ca ngợi về phương pháp giáo dục tiên tiến này, do có tỉ lệ mang thai tuổi v thành niên thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5 ) [17]. Ở Đức, nội dung giáo dục giới tính được triển khai từ những năm 1960, đến năm 1974, đã xây dựng chi tiết, có kế hoạch về một chương trình giáo dục giới tính, 7 các HS từ lớp 8 bắt đầu học chương trình này với 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sách tham khảo được qui đ nh. Ở Nhật Bản, chính sách giáo dục giới tính truyền thống của Nhật Bản được gọi là “giáo dục thuần khiết”.
Trong các năm 1947, 1949, 1955 Bộ Giáo Dục Nhật Bản ra văn bản “ Về việc thực thi giáo dục thuần khiết”, “ Những điều cơ bản về giáo dục thuần khiết”, “Đề án thí điểm thực thi giáo dục thuần khiết”. Đến năm 1966, “giáo dục giới tính” mới bắt đầu triển khai s dụng, HS lớp 6 được phổ biến chương trình này. Đến năm 1985, Nhật Bản phát hiện tường hợp đầu tiên nhi m AIDS, vì vậy, các tờ rơi liên quan đến phòng chống AIDS được nhà nước và các tổ chức phi chính phủ khác đã phát hành trên cả nước, trong đó có đối tượng HS THCS [dẫn theo 14].P MA-S -LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng: Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào. Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta.
Vì vậy, phải dẫn dắt họ theo kiểu khác.”, “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang b kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội. Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận giới tính và giáo dục giới tính ở một số khía cạnh như: đạo đức giới tính liên quan đến đạo đức xã hội, liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm về mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, xã hội hay giáo dục giới tính nhằm chuẩn b cho nam nữ bước vào đời sống hạnh phúc gia đình và cuộc sống hôn nhân. Một số nước như Thụy Điển lại áp dụng giáo dục giới tính qua truyền hình; Ở Mỹ, giáo dục giới tính được phân theo các cấp học. Đối với Hà Lan, giáo dục giới tính được giảng dạy ở bậc tiểu học.
Các công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo để tác giả triển khai nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở với các nội dung như mục tiêu, nguyên tắc giáo dục giới tính, nội dung và hình thức, phương pháp giáo dục giới tính. Các công trình nghiên cứu trong nước Tác giả Bùi Ngọc Oánh nghiên cứu về tâm lý học giới tính, giáo dục học giới tính đã xác đ nh các đặc điểm của giới và giới tính, những nội dung cần quan tâm trong giáo dục giới tính cho học sinh [14]. Tác giả Nguy n Thanh Thủy trình bày cơ chế quá trình hình thành giới, các phương pháp xét nghiệm để chẩn đoán xác đ nh giới tính trong trường hợp mơ hồ về giới tính, đề xuất nội dung giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên [15]. 8 Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục sinh sản sức khỏe v thành niên cho rằng: V thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người.
Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về giáo dục sinh sản sức khỏe v thành niên sẽ trưởng thành lên người lớn. Lại có một lớp v thành mới cần được thông tri giáo dục về giáo dục sinh sản sức khỏe v thành niên. Vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục giáo dục sinh sản sức khỏe cho v thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liên tục [6, tr.