CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan Đất: là sản phẩm của tự nhiên, được tạo thành do quá trình tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian. Đất đai xuất hiện tồn tại, phát triển ngoài ý chí và nhận thức của con người, luôn vận động theo những quy luật tự nhiên khách quan mà con người không thể khống chế được như quá trình phong hoá đá tạo thành đất, khoáng hoá làm suy thoái đất.Sự tác động của con người ở mức độ nào đó chỉ có thể làm thay đổi tốc độ quá trình trên mà thôi [12]. Đất lâm nghiệp: là đất đang dùng chủ yếu vào sản xuất hoặc nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp, gồm đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng, đất được quy hoạch để trồng rừng và đất được quy hoạch để trồng rừng và đất ươm cây giống lâm nghiệp [12].
Rừng: là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và hoàn cảnh khác [1,2]. Giao đất giao rừng đến hộ gia đình: là giao tư liệu sản xuất tức đất, rừng cho các hộ gia đình.
Nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất, tài nguyên rừng. Tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân [3]. Quan điểm về sử dụng đất và sử dụng đất lâm nghiệp bền vững • Phát triển bền vững Thật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “chiến lược bảo tồn thế giới” (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Quốc tế) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động tới môi trường sinh thái học” [18]. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo của Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới.
Báo cáo này chỉ rõ: Phát triển bền vững là “Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. 4 • Sử dụng đất bền vững Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp, liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hiện tại và tương lai. Sử dụng đất bền vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông qua các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp [19]. Sử dụng đất được coi là bền vững phải đảm bảo các thuộc tính sau: + Sử dụng các tài nguyên đất đai trên một cơ sở dài hạn + Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng trong tương lai + Tăng cường sức sản xuất trên đầu người + Duy trì, tăng cường chất lượng môi trường + Phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh thái bị suy thoái và nghèo nàn.
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu. • Sử dụng đất lâm nghiệp bền vững Sử dụng đất lâm nghiệp được coi là bền vững thì phải sử dụng một cách toàn diện coi trọng ba khâu: Trồng, bảo vệ và khai thác hợp lý, tốc độ khai thác không được lớn hơn tốc độ phục hồi. Phát triển lâm nghiệp phải lấy rừng giữ rừng, lấy rừng phát triển rừng, lấy rừng cải thiện đời sống người dân và phải gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội [19]. Độ che phủ: Là tỷ lệ diện tích rừng trên một đơn vị diện tích hay lãnh thổ.
Độ che phủ phản ánh việc sử dụng đất lâm nghiệp có hợp lý hay khôn Đất lâm nghiệp được coi là bền vững thì độ che phủ của rừng tự nhiên phải đạt mức tối thiểu là 30%. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG Chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng đã hình thành từ rất sớm. Ngay từ năm 1983, Ban Bí thư (Khoá V) đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Chỉ thị nhấn mạnh, ‘làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ’.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương này và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao đất và rừng sản xuất. Nhiều hộ, nhiều cộng đồng đã được nhận đất, nhận rừng và đã tích cực đầu tư để phát triển sản xuất. Do vậy, ở nhiều nơi công tác quản lý và bảo vệ rừng đã có những chuyển biến tích cực, tài nguyên rừng phát triển tốt hơn và đời 5 sống của người dân cũng được cải thiện sau khi nhận rừng. Có thể nói giao đất, giao rừng là một chủ trương rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhờ đó chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đó là chuyển từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội.
Các văn bản Nhà nước đã được ban hành - Luật Đất đai (các năm 1987, 1993, 1998, 2003), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm1991 và 2004) - Nghị định số 01/CP ngày 01/01/1995 của Chính phủ quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước. - Nghị định số 02/CP ngày 15/3/1995 của Chính phủ ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. - Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. - Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. - Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ NN&PTNT, Bộ Tài chính về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. - Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngỳa 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.
- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng. - Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh. - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc 6 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng. - Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 1970/BNN-KL ngày 06/7/2006 của Bộ NN&PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2005. - Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. - Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020. - Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ NN&PTNT về Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn.
- Thông tư Liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT của Bộ NN&PTNT và Bộ TNMT, ngày 29/01/2011Về hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp. Những tác động tích cực của chính sách quản lý đất lâm nghiệp - Giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đến hộ gia đình, cá nhân đã tạo được tâm lý phấn khởi vì có được một tài sản và nguồn lực đầu tiên để các hộ gia đình có điều kiện sử dụng lao động của hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển rừng [6]. Điều này, chứng tỏ nhân dân miền núi rất thiết tha với đất đai, rất cần đất đai để sản xuất, rất cần quyền sử dụng đất đai ổn định. Đến nay, cần phá bỏ tư duy cho rằng nông dân miền núi không tha thiết sổ đỏ đất lâm nghiệp, và cần chú ý đến thị trường đất đai đang xuất hiện ở miền núi khá mạnh.
- Kết quả giao đất lâm nghiệp đã tạo được tiền đề để có những chủ rừng đích thực phát triển kinh tế hộ gia đình. Đối với hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng tốt các nguồn lực hỗ trợ từ các chương trình, dự án của nhà nước và của hộ gia đình để tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng trên đất lâm nghiệp được giao thì thật sự họ đã trở thành người chủ sở hữu rừng trồng trên đất được giao. Từ đó, đã có tác động tốt đến phát triển lâm nghiệp, đến tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, ảnh hưởng tích cực đến sản xuất lâm sản hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi [7]. - Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp đến hộ gia đình đã tạo điều kiện 7 nâng cao tư duy kinh tế cho các chủ hộ gia đình, có thêm nguồn lực mới để “gắn đất đai với lao động” và phát triển kinh tế hộ gia đình.
Truớc đây nông dân miền núi tham gia lâm nghiệp với vị trí của người làm thuê. Các hộ gia đình ở miền núi rất thiếu đất đai, sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào sự thăng trầm của các Lâm trường Quốc doanh. Không có đất, hoặc thiếu đất, kinh tế hộ nông dân miền núi không thể phát triển được.