CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về exosome 1.1 Bối cảnh khám phá exosome Exosome là một trong những túi tiết ngoại bào (EV) được phát hiện sớm từ những năm 1980 và chỉ thu hút được sự quan tâm từ cộng đồng nghiên cứu khoa học trong hai thập kỉ vừa qua [29, 65]. Khởi đầu là những suy đoán về túi tiết ngoại bào từ nghiên cứu về các yếu tố tham gia quá trình đông máu của Chargaff và West năm 1946 khi phát hiện ra những hạt lắng sau khi ly tâm máu ở tốc độ 31000 g, những hạt lắng này có nguồn gốc từ tế bào và không tham gia quá trình đông máu [8]. Sau đó, thuật ngữ 'exosome' lần đầu tiên được đặt ra vào năm 1981 bởi Trams và cộng sự để mô tả chung về các túi tiết ra từ màng tế bào [64]. Vào năm 1983, hai nghiên cứu độc lập của Rose Johnstone và Cliff Harding đã phát hiện ra các thể tiết ngoại bào có kích thước chỉ vài trăm nanomet.
Điều thú vị là mục đích của những nghiên cứu này tập trung vào quá trình biệt hóa của hồng cầu lưới, tình cờ phát hiện về sự biến mất của thụ thể transferrin đã tiết lộ sự tồn tại của con đường xuất bào khi nhận ra chúng được đóng gói vào các túi nhỏ và sau đó được tiết ra ngoài tế bào [22, 50]. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng trong quá trình hình thành endosome muộn của tế bào hồng cầu lưới, thể nội bào endosome sớm hình thành thể đa túi MVB chứa nhiều túi nhỏ bên trong. Sau khi thể đa túi MVB hợp nhất với màng tế bào, những túi nhỏ này được giải phóng ra không gian ngoại bào. Năm 1987, thuật ngữ ‘exosome’ được Rose Johnstone đặt cho các túi tiết có kích thước nhỏ, được giải phóng sau khi màng thể đa túi MVB hợp nhất với màng tế bào [30].
Ở giai đoạn ban đầu, exosome không được quan tâm cho tới khi các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng tham gia vào các con đường truyền tin tế bào và các phản ứng miễn dịch bên trong cơ thể [23]. Kể từ đó, số lượng các nghiên cứu về 2 Luận văn thạc sĩ khoa học K30 Công nghệ sinh học-Nguyễn Quang Minh exosome ngày càng gia tăng và chúng đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu để tìm ra cơ chế hoạt động cũng như vai trò của chúng trong các quá trình sinh lý học. 3 Luận văn thạc sĩ khoa học K30 Công nghệ sinh học-Nguyễn Quang Minh 1.2 Đặc điểm của exosome Túi tiết ngoại bào (EV) được định nghĩa là các túi nhỏ có màng lipid bao bọc kín, được giải phóng từ tế bào, có thể vận chuyển DNA, RNA và protein như một phương thức trao đổi chất giữa các tế bào [55, 78]. Dựa trên kích thước và nguồn gốc hình thành, EV được phân loại thành các thể tế bào chết theo chương trình (apoptotic body), các túi vi thể hay còn gọi vi bóng bào (microvesicle) và exosome.
Thể apoptotic có đường kính khoảng vài micromet, là thể tiết hình thành từ tế bào chết theo chu trình. Ngược lại, các loại EV khác đều được tiết từ tế bào sống. Các túi vi thể có đường kính từ 100 nm đến 1000 nm được hình thành trực tiếp từ màng tế bào. Exosome (EX) sở hữu kích thước nhỏ nhất với đường kính khoảng 40 nm đến 150 nm và hình thành từ bên trong thể nội bào endosome sớm.
Chúng được giải phóng ra môi trường ngoại bào sau khi thể đa túi MVB hòa hợp với màng tế bào thông qua con đường vận chuyển chất ra bên ngoài tế bào [31]. Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, EX có thể có cấu trúc hình cốc hoặc tròn tùy vào kỹ thuật nhuộm [44]. Như đã đề cập, EX chứa nhiều các thành phần sinh học phân tử bên trong, bao gồm khoảng 4400 protein đa dạng các loại (actin, tubulin, profilin, cofilin), 194 loại lipid, 1639 loại mRNA, 764 loại miRNA và các enzyme chuyển hoá như GAPDH và pyruvate kinase [9, 43, 51]. Do bản chất màng EX là lipid, nên EX được làm giàu với các loại lipid chứa chuỗi axit béo và bão hòa bao gồm cholesterol, spakenolipid, ceramide và glycerophospholipid.
Các protein của EX thường có nguồn gốc từ màng sinh chất, con đường vận chuyển nội bào, tế bào chất và một lượng ít đến từ các bào quan khác như nhân, lưới nội chất, bộ máy Golgi [6]. Một số protein xuyên màng đặc trưng cho EX là protein sốc nhiệt (HSP70, HSP90), protein tetraspanin (CD9, CD63, CD81), ceramid và cholesterol [44]. Bên cạnh đó, một số protein như hnRNPA2B1 và hnRNPA1 có chức năng nhận dạng và tải chọn lọc miRNA vào EX [69]. miRNA có thể điều chỉnh các hoạt động phát triển và trao đổi chất của tế bào bằng 4 Luận văn thạc sĩ khoa học K30 Công nghệ sinh học-Nguyễn Quang Minh cách ức chế biểu hiện gen sau phiên mã.
Ngược lại, một loại mRNA khác có trong EX là RNA mạch vòng (circRNA), chúng không có khả năng mã hóa protein nhưng có khả năng ức chế miRNA tương tác với mRNA và liên kết với protein tạo thành phức hợp protein-RNA quy định sự biểu hiện protein [21]. Sau khi EX thoát ra môi trường ngoại bào, các chất mang của chúng sẽ được vận chuyển và hấp thu bởi tế bào khác thông qua các con đường nhập bào, hòa hợp màng và các kênh thụ thể trên bề mặt tế bào [35, 81]. Những chất mang này sẽ tham gia điều chỉnh biểu hiện gen và có thể làm thay đổi chức năng và hoạt động nội bào của tế bào tiếp nhận [66, 81]. Thành phần bên trong EX và tế bào đích mà chúng đi đến có thể khác nhau, điều này phụ thuộc vào tế bào ban đầu tiết ra chúng [28, 60].
Do đó, các EX hoạt động như các chất truyền tin và là trung gian giao tiếp giữa các tế bào. Bên cạnh đó, cấu trúc màng phospholipid độc đáo cho phép EX chịu đựng được các điều kiện khắc nghiệt [15]. Cụ thể, màng EX được tổ chức bởi thành phần chính là các phospholipid và cholesterol tạo thành lớp lipid kép với sự phân bố ngẫu nhiên của phosphatidyletanolamine. Khi gặp môi trường acid như dịch vị dạ dày, màng EX sẽ được tái tổ chức và có sự chuyển đổi lipid nhanh chóng giữa hai lớp màng [36].
Đây cũng là đặc điểm khác biệt so với màng tế bào và màng của các loại EV khác. 5 Luận văn thạc sĩ khoa học K30 Công nghệ sinh học-Nguyễn Quang Minh Hinh 1. Minh họa về cấu trúc EX và các đặc tính thích hợp cho vai trò vận chuyển chất ngoại bào [81].2 Vai trò và ứng dụng của EX Một trong những chức năng đầu tiên được tìm thấy của EV nói chung và của EX nói riêng là đẩy vật liệu không cần thiết ra khỏi tế bào [68]. Việc đào thải các protein, miRNA, mRNA, DNA gây hại sẽ giúp duy trì sự cân bằng nội môi, đồng thời việc thay đổi hàm lượng các thành phần protein, miRNA, mRNA và DNA gián tiếp tác động đến biểu hiện gen của tế bào.
Một chức năng khác của EX là đóng gói, vận chuyển vật liệu đến tế bào đích. Cùng với việc được hình thành trong hầu hết các loại tế bào trong cơ thể (tế bào gan, tế bào tua, hồng cầu, tế bào mast, tế bào biểu mô), EX tham gia và tác động vào các phản ứng miễn dịch, quá trình mang thai, cân bằng nội môi, tạo mạch, tăng sinh tế bào, hình thành tế bào thần kinh, chống viêm cùng nhiều hoạt động sinh lý khác [6, 9, 18]. Cụ thể, EX được hấp thụ bởi các tế bào miễn dịch, đóng vai trò điều hòa miễn dịch, là nguồn cung cấp kháng nguyên MHC, peptid ngoại lai cho tế bào tua, hỗ trợ tế bào trình diện kháng nguyên cho tế bào T để kích hoạt các phản ứng miễn dịch [10, 46]. Trong suốt quá trình phát triển của thai kỳ, một lượng lớn EX có nguồn gốc từ nhau thai tham gia vào hệ tuần hoàn, làm trung gian tế bào hỗ trợ trao đổi chất và 6 Luận văn thạc sĩ khoa học K30 Công nghệ sinh học-Nguyễn Quang Minh giải phóng nhiều loại hormone, yếu tố tăng trưởng, cytokine, miRNA, protein thiết yếu cho sức khỏe của mẹ và thai nhi [18].
Ở hệ thần kinh, EX được tiết ra từ các loại tế bào thần kinh khác nhau sẽ tham gia vào quá trình điều hòa hoạt động dẫn truyền của các synap thần kinh và duy trì chức năng não bộ ở người trưởng thành. Sự tương tác giữa các EX từ tế bào thần kinh đệm và tế bào thần kinh thúc đẩy sự phát triển của tế bào thần kinh ở vùng đồi thị và tăng khả năng sống sót của tế bào ở vùng vỏ não [51]. Trong đó, EX từ tế bào thần kinh đệm oligodendrocyte giúp duy trì và tăng tốc độ dẫn truyền của sợi trục axon [16]; tế bào thần kinh đệm hình sao điều hòa các hoạt động bảo vệ hệ thần kinh, bao gồm khả năng duy trì tính toàn vẹn của hàng rào máu não [51]. Ngoài ra, EX còn là thành phần vi môi trường quan trọng đối với sự tiến triển khối u.
Chúng tham gia vào quá trình chuyển đổi giữa tế bào thường, tế bào gốc ung thư, tế bào ung thư và tái thiết vi môi trường khối u [74]. EX cung cấp vật liệu hỗ trợ quá trình sửa chữa DNA, kháng lại quá trình chết theo chu trình của tế bào ung thư và biểu hiện các enzyme chịu trách nhiệm loại bỏ các chất độc tế bào [71]. Tuy nhiên, những vật liệu này cũng là tác nhân kích thích phản ứng miễn dịch chống tế bào ung thư và là dấu ấn di truyền để nhận diện sự xuất hiện của chúng [76]. Do đó, các thành phần chất mang cho phép việc ứng dụng EX cho công cụ chẩn đoán ung thư và một số bệnh lý liên quan [61, 72].
Việc hỗ trợ chẩn đoán sớm cho phép can thiệp kịp thời và cải thiện kết quả của bệnh nhân. Một ứng dụng khác của EX trong dược học là phương tiện chuyển tải thuốc vào vị trí đích trong cơ thể. Khả năng mang thuốc và chống chịu được các điều kiện khắc nghiệt khiến chúng trở thành sự lựa chọn cho vai trò phân phối thuốc [52]. EX có cấu trúc màng tương đối ổn định trong thời gian dài ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau, có thể bảo quản đông khô và cũng có thể được sửa đổi để mang các chất cụ thể [38].
Tính hướng đích giúp tăng hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ gây tác dụng phụ của thuốc cho cơ thể [17].