Tổng quan luận án

Công trình Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt của tác giả Bùi Trọng Ngoãn là luận án tiến sĩ Ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học), được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004. Toàn văn luận án gồm 214 trang, trong đó phần nội dung chính văn chiếm 200 trang, đi sâu phân tích toàn diện lớp động từ tình thái (ĐTTT) tiếng Việt trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh ngôn ngữ học chuyển trọng tâm từ cấu trúc sang chức năng, việc nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp đòi hỏi phải mở rộng phạm trù ngữ nghĩa của câu: không chỉ giới hạn ở nghĩa miêu tả (representative) mà phải bao quát cả nghĩa tình thái (modality), không chỉ dừng lại ở hiển ngôn mà cần làm sáng tỏ các cơ chế nảy sinh hàm ý và hiệu lực tại lời. Trong hệ thống các phương tiện ngôn ngữ biểu thị tình thái, ĐTTT giữ vị trí then chốt nhưng tại Việt Nam trước năm 2004, đối tượng này chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và thỏa đáng. Tác giả chỉ ra 5 vấn đề cốt lõi còn bỏ ngỏ trong giới Việt ngữ học:

  1. Xác định ĐTTT với tư cách là một tiểu lớp động từ cơ hữu của tiếng Việt.
  2. Vai trò của ĐTTT trong việc biểu thị các nội dung tình thái (khách quan, chủ quan, nhận thức, đạo nghĩa).
  3. Tổ chức của các đoản ngữ có ĐTTT làm trung tâm và sự lý giải tổ chức đó về phương diện ngữ nghĩa.
  4. Vai trò của ĐTTT trong cấu trúc câu (sự chế định của vị ngữ là ĐTTT đối với việc lựa chọn chủ ngữ và hiện thực hóa các thành phần phụ).
  5. Các kiểu hành vi ngôn ngữ mà ĐTTT tham gia biểu thị.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các ĐTTT trong tiếng Việt và phân lập các tiểu lớp của nó dựa trên định hướng tiếp cận ngữ pháp – ngữ nghĩa và tiêu chuẩn đồng chủ thể của T. Givón.
  2. Phân tích các ĐTTT tiếng Việt theo các nội dung tình thái mà chúng biểu thị: tình thái khách quan hay chủ quan, nhận thức hay đạo nghĩa cùng các hàm ý tình thái đi kèm.
  3. Khảo sát tổ chức của đoản ngữ có ĐTTT làm trung tâm, bao gồm các kiểu bổ ngữ vị từ và các tác tử tình thái (hư từ thời, thể, phủ định) tham gia ngữ đoạn.
  4. Khảo sát vai trò của vị ngữ là ĐTTT trong cấu trúc của câu, đặc biệt là sự chế định đối với việc đề bạt chủ ngữ.
  5. Khảo sát mối quan hệ tương liên giữa câu có vị ngữ là ĐTTT với các kiểu hành vi tại lời (illocutionary acts) mà câu đó có thể thực hiện nhằm làm rõ mối tương tác giữa nội dung mệnh đề và khung tình thái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tiểu lớp động từ tình thái trong tiếng Việt, bao gồm các ĐTTT chuyên biệt (chính danh), ĐTTT không điển dạng và các động từ bán tình thái (semimodals) trong chuỗi vị từ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trong phạm vi tiếng Việt hiện đại. Cứ liệu được thu thập từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Giáo dục, 1997), các tác phẩm văn học Việt Nam, các bản dịch văn học nước ngoài, văn bản báo chí và các cuộc giao tiếp hội thoại khẩu ngữ thực tế ghi chép hàng ngày.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu về tình thái và động từ tình thái trong ngôn ngữ học thế giới và Việt ngữ học:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Lôgich học và Ngôn ngữ học: Ch. Bally đề xuất sự đối lập giữa hai thành phần nghĩa cơ bản của phát ngôn là modus (tình thái) và dictum (nội dung sự tình); C.J. Fillmore mô hình hóa cấu trúc nghĩa câu qua công thức $S = M + P$ (Câu = Tình thái + Mệnh đề); J. Bybee định nghĩa tình thái bao gồm tất cả những gì người nói thực hiện cùng với nội dung mệnh đề.
  • Phân loại tình thái: J. Lyons (1977) và F.R. Palmer (1986 trong Mood and Modality) phân lập hai phạm trù lớn của tình thái chủ quan là tình thái nhận thức (epistemic) và tình thái đạo nghĩa (deontic). Palmer và Huddleston (1976) cũng xác lập tiêu chuẩn NICE (Phủ định, Đảo ngữ, Mã hóa, Khẳng định nhấn mạnh) để nhận diện trợ động từ tình thái trong tiếng Anh.
  • Ngữ pháp chức năng và Cú pháp: T. Givón (1990 trong Syntax - A functional-typological introduction) đưa ra định nghĩa ngữ nghĩa - cú pháp chuẩn mực về ĐTTT: ĐTTT là động từ chính mã hóa sự bắt đầu, kết thúc, tiếp diễn, thành công, thất bại, cố gắng, ý định, nghĩa vụ hoặc khả năng của sự tình ở bổ ngữ; chủ thể của mệnh đề chính bắt buộc phải đồng nhất với chủ thể của mệnh đề phụ. S. Dik và L. Goosens khẳng định ĐTTT là phương thức phổ quát biểu thị tình thái. R.W. Dixon (1991) đề xuất khái niệm động từ bán tình thái (semimodals) thuộc kiểu loại Secondary A types trong chuỗi động từ.
  • Hành vi ngôn ngữ: J.L. Austin (1962 trong How to do things with words) và J.R. Searle phân lập 5 lớp hành vi tại lời; S.E. Jakhontov (1971) đề xuất trắc nghiệm thay thế bằng cụm từ nghi vấn để xác định thành tố trung tâm ngữ đoạn.

Các nghiên cứu về ĐTTT trong tiếng Việt

  • Giai đoạn trước: Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Hoàng Tuệ (1971) bước đầu đề cập đến một số động từ như được, bị, phải.
  • Nguyễn Kim Thản (1977): Trong chuyên luận Động từ trong tiếng Việt, tác giả xác định ĐTTT qua ba đặc điểm cú pháp (thường không đứng một mình, kết hợp được với rất, đi trong khung có... không), chỉ ra các từ như cần, chịu, có thể, dám, định, nên, nỡ, buồn, chực, khỏi, toan. Tuy nhiên, Nguyễn Kim Thản chỉ coi ĐTTT là thành tố phụ của vị ngữ.
  • Diệp Quang Ban (1989, 1992): Xác định ĐTTT là động từ chỉ mối quan hệ của chủ thể với nội dung đứng sau, chia làm 3 nhóm: (1) Cần thiết và khả năng (cần, nên, phải, có thể...); (2) Ý chí, ý muốn (toan, định, dám, nỡ, muốn...); (3) Chịu đựng (bị, được, chịu, mắc, phải). Ông khẳng định ĐTTT là thành tố chính của cụm từ.
  • Cao Xuân Hạo (1991, 1998, 2003): Xác định có hơn 120 vị từ tình thái, giữ vai trò trung tâm ngữ đoạn và đặt ở vị trí đầu tiên. Tuy nhiên, Cao Xuân Hạo mở rộng khái niệm này sang cả các phó từ chỉ thời gian (đã, đang, sẽ), tiếp diễn (vẫn, cứ), phủ định (không, chưa).
  • Các tác giả khác: Nguyễn Tài Cẩn (1975) và Đinh Văn Đức (1986) khẳng định ĐTTT đứng trước là thành tố chính của động ngữ; Nguyễn Thị Quy (1995) vận dụng bảng phân loại sự tình của Simon Dik; Huỳnh Văn Thông (1996), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) nghiên cứu về cấu trúc vị từ và vị ngữ.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện, có hệ thống toàn bộ tiểu lớp ĐTTT tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Luận án phân định rõ ranh giới giữa ĐTTT (thực từ) với các tác tử tình thái/phó từ (hư từ), xác lập vị thế trung tâm của ĐTTT trong ngữ đoạn bằng các trắc nghiệm hình thức, đồng thời vận dụng khái niệm động từ bán tình thái của Dixon để giải thích thỏa đáng các chuỗi ĐTTT trong tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết tình thái: Tiếp cận theo hướng ngữ pháp – ngữ nghĩa và ngữ pháp chức năng. Phân biệt tình thái khách quan (lôgich đa trị: hiện thực/phi hiện thực, tất yếu/không tất yếu, có thể/không thể) và tình thái chủ quan (sự đánh giá, cam kết của người nói). Tình thái chủ quan gồm:
    • Tình thái nhận thức (epistemic): Đánh giá về độ chân thực, chia thành ba mức độ: thực hữu (factive), phản thực hữu (counter-factive), và không thực hữu (non-factive).
    • Tình thái đạo nghĩa (deontic): Đánh giá theo quy ước xã hội, luân lý, chuẩn mực, chia thành: bắt buộc, cấm đoán, được phép, và miễn trừ.
  • Khái niệm ĐTTT theo T. Givón: ĐTTT là vị từ chính đòi hỏi một bổ ngữ là ngữ đoạn vị từ cùng chia sẻ chung một chủ thể ($S \rightarrow \text{SUBJ} + \text{VP}[\text{V}{\text{modal}} + \text{VP}{\text{complement}}]$).
  • Lý thuyết chuỗi động từ và ĐT bán tình thái theo R.W. Dixon: ĐTTT chính danh đứng ở vị trí đầu chuỗi; các động từ đi sau đóng vai trò bổ ngữ lâm thời mang tính "phi điều kiện" (unconditional) được xem là động từ bán tình thái (semimodals).
  • Lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J.R. Searle: Khung 5 lớp hành vi tại lời: tái hiện (assertives), điều khiển (directives), cam kết (commissives), biểu cảm (expressives), và tuyên bố (declarations).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp quy nạp: Đi từ quan sát, tập hợp cứ liệu ngôn ngữ thực tế trong văn bản và khẩu ngữ để khái quát hóa thành các mô hình, quy tắc và phân loại ngữ nghĩa.
  • Thủ pháp phân tích cấu trúc – ngữ nghĩa:
    • Thủ pháp cải biến (transformation): Kiểm tra tính khả chấp của cấu trúc (ví dụ: đi ăn $\rightarrow$ đi mà ăn [+], muốn ăn $\rightarrow$ muốn mà ăn [-]).
    • Thủ pháp thay thế, tỉnh lược, bổ sung, chêm xen: Sử dụng các tác tử là, rằng, rằng là, cho để phân biệt ĐTTT với động từ chỉ thái độ mệnh đề và động từ gây khiến.
    • Trắc nghiệm S.E. Jakhontov: Thay thế thành tố phụ bằng từ ngữ nghi vấn (làm gì) để chứng minh ĐTTT là thành tố trung tâm ngữ pháp của ngữ đoạn.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Kế thừa và phân tích các số liệu về tỷ lệ vị ngữ động từ trong câu tiếng Việt (88% vị ngữ là động từ theo thống kê của Nguyễn Kim Thản) và tần suất kết hợp của các nhóm tiền phó từ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Cứ liệu từ điển: Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Nxb Giáo dục, 1997).
  • Cứ liệu văn bản: Các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, tác phẩm văn học nước ngoài dịch sang tiếng Việt, các bài báo và phóng sự tiếng Việt.
  • Cứ liệu hội thoại: Các đoạn hội thoại tự nhiên trong đời sống hàng ngày được tác giả trực tiếp quan sát và ghi chép.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

Chương I xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ luận án, xác lập định nghĩa, tiêu chí nhận diện và hệ thống phân loại ĐTTT tiếng Việt theo hướng ngữ nghĩa:

  • Phân biệt phạm trù tình thái: Đối lập giữa modus (tình thái) và dictum (nội dung mệnh đề); phân biệt tình thái khách quan (ba tham số: hiện thực/phi hiện thực, tất yếu/không tất yếu, có thể/không thể) và tình thái chủ quan (nhận thức và đạo nghĩa); phân biệt tình thái của hành động phát ngôn (dụng học) và tình thái của lời phát ngôn (nghĩa học).
  • Nhận diện ĐTTT tiếng Việt: Tiếp thu định nghĩa của T. Givón, luận án xác định ĐTTT tiếng Việt là động từ đòi hỏi một ngữ đoạn vị từ làm bổ ngữ và bắt buộc phải đồng chủ thể.
  • Phân biệt ĐTTT với các cấu trúc vị từ lân cận:
    1. Động từ song tồn (ngủ ngồi, đứng khóc): Quan hệ chính - phụ nêu hành động song hành, không có chức năng tình thái hóa.
    2. Ngữ khứ hồi (đi chơi về, ra mua về ăn): Động từ đứng cuối là thành tố chính.
    3. Động từ chỉ thái độ mệnh đề (nghĩ, tưởng, chắc, cảm thấy): Cho phép chêm xen là, rằng, rằng là, trong khi ĐTTT không thể xen các từ này.
    4. Kết cấu cầu khiến (bảo viết đi): Mô hình gốc là $\text{ĐT}_1 + \text{Danh ngữ} + \text{ĐT}_2$, hai động từ không đồng chủ thể.
    5. Động từ gây khiến (làm vỡ, bẻ gãy): Có thể xen cho vào giữa (làm cho vỡ), ĐTTT không chấp nhận thao tác này.
  • Hiện tượng chuỗi ĐTTT và ĐT bán tình thái: Dựa trên R.W. Dixon, luận án giải thích trong các chuỗi như quyết định phải giả vờ làm mặt giận, ĐTTT đứng đầu (quyết định) bao trùm toàn chuỗi, các động từ đứng sau (phải, giả vờ) đóng vai trò ĐT bán tình thái lâm thời.
  • Hệ thống phân loại ĐTTT tiếng Việt:
Lớp lớn Tiểu lớp Nhóm ý nghĩa cụ thể Các ĐTTT tiêu biểu
Tình thái Nhận thức Thực hữu (Factive) (1) Bắt đầu
(2) Chấm dứt
(3) Tồn tại thời gian
(4) Tiếp diễn
(5) Bất ngờ
(6) Biến hóa
(7) Tâm sinh lý
(8) Cố ý
(9) Nỗ lực
(10) Tiếp nhận
(11) Giảm nhẹ có lợi
(12) Năng lực
chớm, bắt đầu
thôi, ngưng, ngừng, bỏ, nghỉ, hết, dứt, tạnh
có, còn
tiếp tục, mải
bật, phát, vụt, chợt, sực
đâm, đâm ra, hóa ra, trở nên, sinh ra
buồn, mót, mắc, thích, ham, ưa, thèm
cố tình, cố ý, vờ, giả vờ, tỏ vẻ
rán, ráng, cố, gắng, gượng, nín, nhịn
bị, được, phải, chịu
khỏi, đỡ, nguôi, kiêng, tránh
biết, tập, quen
Phản thực hữu (Counter-factive) Biểu thị sự tình phi hiện thực hoặc tất yếu phi hiện thực toan, suýt, chực, hòng
Không thực hữu (Non-factive) (1) Mong muốn
(2) Chủ định
(3) Ứng phó
(4) Cân nhắc, lựa chọn
muốn, mong, ngại, lo
định, định bụng, quyết, quyết tâm, tính
sẵn sàng, sẵn lòng
thử, thà
Tình thái Đạo nghĩa Bắt buộc Nghĩa vụ bắt buộc thực hiện phải, cần, nên, trót, lỡ, nhỡ
Cấm đoán Vi phạm chuẩn mực, cấm đoán dám, nỡ, đành, đang tâm, không được
Được phép Cho phép, khả năng phù hợp chuẩn mực có thể, được
Miễn trừ Không bắt buộc, tạm hoãn nghĩa vụ khoan, không thể

Chương II: Bình diện kết học của động từ tình thái tiếng Việt

Chương II tập trung làm sáng tỏ đặc điểm cú pháp và cấu trúc ngữ đoạn của ĐTTT tiếng Việt:

  • Vị thế trung tâm của ĐTTT trong ngữ đoạn: Luận án kiểm nghiệm và khẳng định ĐTTT là thành tố chính của ngữ đoạn vị từ thông qua trắc nghiệm Jakhontov (khi thay thế bộ phận phụ đi sau bằng cụm từ nghi vấn làm gì, ví dụ: đang không muốn ăn $\rightarrow$ đang không muốn làm gì? thì ĐTTT vẫn giữ nguyên vị trí hạt nhân).
  • Cấu trúc tham tố của ngữ đoạn ĐTTT:
    • Mô hình bất biến: $\text{ĐTTT (thành tố chính)} + \text{ĐT thường (bổ ngữ trực tiếp)}$.
    • Mô hình khả biến: $\text{Thành tố phụ trước} + \text{Trung tâm (ĐTTT)} + \text{Thành tố phụ sau}$.
  • Khảo sát khả năng kết hợp với 6 nhóm tiền phó từ:
    1. Tiếp diễn, tương tự (đều, cũng, vẫn, cứ, lại): Kết hợp tự nhiên với hầu hết các ĐTTT nhận thức thực hữu (cũng cố, vẫn không chịu ngừng, cứ nhịn cười).
    2. Quan hệ thời gian (đã, sẽ, đang, từng, mới, vừa): Tương hợp cao do ĐTTT biểu thị quá trình vận động (đã vụt chạy, sẽ cố tìm, đang mải ngắm, mới tạnh mưa).
    3. Tần số xuất hiện (thường, hay, năng, ít, hiếm): Tiếp nhận tốt (thường bị, hay bỏ); riêng phó từ năng hiếm gặp do vừa mang nét nghĩa tần số vừa mang nét nghĩa tiếp diễn, xung đột với tính hữu kết của một số nhóm ĐTTT.
    4. Mức độ (rất, hơi, khí, quá): Bị hạn chế nghiêm ngặt, chỉ xuất hiện trước các ĐTTT chỉ trạng thái tâm sinh lý (rất thèm, quá buồn ngủ) hoặc giảm nhẹ có lợi (hơi đỡ). Nhóm ĐTTT biến cố/hành động [+ động] (chớm, bắt đầu) không chấp nhận phó từ mức độ.
    5. Sai khiến, khuyên nhủ (hãy, đừng, chớ): Kết hợp với các ĐTTT [+ chủ ý] (hãy bắt đầu, đừng quen thói, chớ có sỗ sàng); không kết hợp với ĐTTT [- chủ ý] (buồn ngủ, chớm lạnh).
    6. Phủ định (không, chưa, chẳng): Kết hợp rộng rãi (không phải nhún vai, chưa hết thẹn, chẳng thèm dòm).
  • Thành tố phụ sau và sự đề bạt chủ ngữ: Phân tích các kiểu bổ ngữ vị từ theo tiêu chí sự tình của Simon Dik ([$\pm$ động], [$\pm$ chủ ý], [$\pm$ kết thúc]). ĐTTT đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn và đề bạt chủ thể hành động lên vị trí chủ ngữ của câu.

Chương III: Bình diện nghĩa học của ĐTTT tiếng Việt

Chương III phân tích cấu trúc ngữ nghĩa chi tiết của hai lớp ĐTTT:

  • Ngữ nghĩa lớp ĐTTT nhận thức:
    • Tiểu lớp thực hữu: Xác nhận sự tình đã hoặc đang diễn ra trong thực tế khách quan. Luận án phân tích sâu tiền giả định (TGĐ) và hàm ý (HY) của từng nhóm: nhóm bắt đầu/chấm dứt chứa TGĐ về trạng thái trước đó; nhóm nỗ lực (cố, gượng, nín, nhịn) chứa TGĐ về sự khó khăn, cản trở; nhóm tiếp nhận (bị, được) chứa hàm ý đánh giá chủ quan về tính chất bất lợi hay có lợi của sự tình đối với chủ thể.
    • Tiểu lớp phản thực hữu (toan, suýt, chực, hòng): Luôn mang tiền giả định sự tình ở bổ ngữ đã không xảy ra trong thực tế (suýt ngã $\rightarrow$ thực tế là chưa ngã).
    • Tiểu lớp không thực hữu (muốn, định, mong, sẵn sàng, thử): Biểu thị sự tình chưa diễn ra, tồn tại ở dạng tiềm năng hoặc ý hướng trong một thế giới khả năng.
  • Ngữ nghĩa lớp ĐTTT đạo nghĩa:
    • Tiểu lớp bắt buộc (phải, cần, nên): Biểu thị nghĩa vụ khách quan hoặc chuẩn mực xã hội áp đặt lên chủ thể.
    • Tiểu lớp cấm đoán (dám, nỡ, đành, đang tâm): Biểu thị sự vi phạm các rào cản đạo đức, phong tục, tâm lý. Dám biểu thị sự vượt qua nỗi sợ hãi hoặc quy tắc; nỡ/đang tâm biểu thị hành động đi ngược lại lòng trắc ẩn.
    • Tiểu lớp được phép (được, có thể) và miễn trừ (khoan, không thể): Xác lập ranh giới quyền hạn và sự giải trừ nghĩa vụ.
  • Hiện tượng mơ hồ tình thái (modal ambiguity): Một số ĐTTT như phải, được, dám, nỡ, đành có sự chuyển dịch linh hoạt giữa nghĩa nhận thức và nghĩa đạo nghĩa tùy thuộc vào ngữ cảnh và sự tương tác giữa tiền giả định sự kiện với chuẩn mực ứng xử.

Chương IV: Bình diện dụng học của ĐTTT tiếng Việt

Chương IV khảo sát ĐTTT trong mối tương quan với lực ngôn trung và 5 lớp hành vi tại lời theo phân loại của J.R. Searle:

  • ĐTTT trong hành vi tái hiện (assertives): ĐTTT nhận thức giúp người nói điều chỉnh thang độ cam kết chân lý đối với thông tin miêu tả (từ xác tín tuyệt đối đến phỏng đoán, dè dặt).
  • ĐTTT trong hành vi điều khiển (directives): Sự xuất hiện của các ĐTTT đạo nghĩa (phải, nên, cần) hoặc nhận thức (hãy bắt đầu, đừng ngại) đóng vai trò làm biến đổi hiệu lực cầu khiến: chuyển đổi giữa mệnh lệnh trực tiếp, lời khuyên, đề nghị lịch sự, hoặc sự nhắc nhở mang tính chuẩn mực.
  • ĐTTT trong hành vi biểu cảm (expressives): Các ĐTTT như tiếc, buồn, nỡ, ngại, thèm tham gia trực tiếp vào biểu thức ngôn hành để bộc lộ thái độ, cảm xúc, sự đồng cảm hoặc chê trách của người nói đối với sự tình.
  • ĐTTT trong hành vi cam kết (commissives): Các ĐTTT không thực hữu như quyết, quyết tâm, xin hứa, sẵn lòng xác lập sự ràng buộc trách nhiệm của người nói đối với hành động tương lai.
  • ĐTTT trong hành vi tuyên bố (declarations): ĐTTT tham gia xác lập trạng thái thể chế hoặc công bố thẩm quyền trong các văn bản mang tính pháp lý và nghi thức.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Xác lập hệ thống ĐTTT tiếng Việt hoàn chỉnh: Luận án là công trình đầu tiên miêu tả có hệ thống toàn bộ tiểu lớp ĐTTT tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, dựng nên bức tranh toàn cảnh về phương tiện từ vựng biểu thị tình thái trong tiếng Việt.
  2. Làm rõ ranh giới ngữ pháp và bản chất trung tâm vị từ: Bằng việc vận dụng định nghĩa của T. Givón và trắc nghiệm Jakhontov, luận án chứng minh ĐTTT là thực từ đóng vai trò trung tâm ngữ pháp của ngữ đoạn vị từ, phân định rành mạch ĐTTT với các hư từ/tác tử tình thái (thời, thể, phủ định) và các cấu trúc vị từ lân cận (song tồn, khứ hồi, thái độ mệnh đề, gây khiến).
  3. Phát triển lý thuyết chuỗi ĐTTT: Vận dụng và bản địa hóa thành công lý thuyết động từ bán tình thái của R.W. Dixon để giải quyết thỏa đáng hiện tượng nhiều vị từ tình thái đi liền nhau trong câu tiếng Việt.
  4. Phân loại ngữ nghĩa - ngữ dụng chuẩn xác: Vận dụng nhất quán khung lý thuyết tình thái nhận thức/đạo nghĩa của Lyons, Palmer và khung hành vi tại lời của Searle vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt thực tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn và đề xuất ứng dụng

  • Biên soạn giáo trình và tài liệu giảng dạy: Cung cấp nguồn tư liệu ngôn ngữ học xác thực phục vụ biên soạn các phần ngữ pháp tiếng Việt, từ loại học và ngữ nghĩa học cho các trường đại học.
  • Xây dựng chuyên đề đại học: Luận án có thể sử dụng trực tiếp để xây dựng thành một chuyên đề chuyên sâu về "Tình thái và Động từ tình thái trong tiếng Việt" cho sinh viên và học viên cao học ngành Ngữ văn / Ngôn ngữ học.
  • Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ: Bổ sung các tri thức tường minh về quy tắc kết hợp cú pháp và hàm ý ngữ dụng của ĐTTT, giúp người nước ngoài học tiếng Việt sử dụng chính xác lớp từ phức tạp này.
  • Nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ: Làm cơ sở tư liệu cho các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống tình thái giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Ấn - Âu hoặc ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được xác định trong văn bản

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát theo tiêu chí đồng chủ thể của T. Givón, do đó chưa đi sâu xử lý các trường hợp vị từ tình thái có bổ ngữ vị từ không cùng chủ thể với vị ngữ trung tâm (điển hình như các cấu trúc bị động ngoại tác bị đánh, bị ruồng bỏ, được thưởng).
  • Việc phân biệt ranh giới giữa ĐTTT với một số động từ chỉ thái độ mệnh đề hoặc động từ chuyển tác gây khiến trong một vài ngữ cảnh giao tiếp khẩu ngữ đặc biệt mới dừng lại ở các nét khu biệt hình thức sơ bộ, chưa giải quyết triệt để mọi trường hợp giao thoa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cấu trúc vị từ tình thái kiêm nhiệm không đồng chủ thể và các dạng thức bị động hóa trong tiếng Việt.
  • Đi sâu nghiên cứu đối chiếu ĐTTT tiếng Việt với hệ thống trợ động từ tình thái (modal auxiliaries) trong tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các ngôn ngữ khác theo hướng loại hình học ngôn ngữ.
  • Khảo sát sự phân bố và biến thể ngữ dụng của ĐTTT trong các thể loại diễn ngôn chuyên biệt như văn bản hành chính, văn bản lập pháp và diễn ngôn báo chí hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và đào tạo ngôn ngữ:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học: Tham khảo phương pháp tiếp cận ngữ pháp – ngữ nghĩa, cách thức vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng (Givón, Dik, Palmer, Lyons, Dixon) vào việc phân tích các hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt. Đặc biệt đáng tham khảo là hệ thống phân loại ĐTTT chi tiết ở Chương I và bảng khảo sát khả năng kết hợp cú pháp ở Chương II.
  • Giảng viên đại học ngành Ngữ văn / Việt ngữ học: Khai thác các phân tích ngữ nghĩa về tiền giả định, hàm ý tình thái (Chương III) và mối quan hệ giữa ĐTTT với các lực ngôn trung (Chương IV) để làm ngữ liệu giảng dạy các học phần Ngữ pháp học, Ngữ nghĩa học và Ngữ dụng học.
  • Giảng viên và chuyên gia giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL): Tham khảo quy tắc tương thích giữa ĐTTT với 6 nhóm tiền phó từ (Chương II) để hướng dẫn người học tránh các lỗi sai kết hợp (như *buồn hãy ngủ, *hả vẫn giận).
  • Biên dịch viên và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu: Khai thác cấu trúc vị từ tình thái và các sắc thái nghĩa tương đương phục vụ việc chuyển ngữ chính xác các trợ động từ tình thái tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng tiêu chí cốt lõi nào của T. Givón để nhận diện động từ tình thái trong tiếng Việt?

Luận án dựa trên định nghĩa ngữ nghĩa - cú pháp của T. Givón (1990): ĐTTT là động từ chính mã hóa sự bắt đầu, kết thúc, tiếp diễn, thành công, thất bại, cố gắng, ý định, bắt buộc hoặc khả năng đối với sự tình nêu ở bổ ngữ; đồng thời chủ thể của ĐTTT bắt buộc phải đồng nhất với chủ thể của ngữ đoạn vị từ làm bổ ngữ ($S \rightarrow \text{SUBJ} + \text{VP}[\text{V}{\text{modal}} + \text{VP}{\text{complement}}]$).

2. Tại sao luận án không đồng nhất các từ chỉ thời gian (đã, đang, sẽ) và phủ định (không, chưa) với ĐTTT như quan điểm của Cao Xuân Hạo?

Tác giả chỉ ra 3 điểm bất cập nếu coi các từ trên là ĐTTT:

  1. Nếu xem chúng là thực từ thì sự phân biệt giữa ĐTTT, phó từ và tiểu từ tình thái của Cao Xuân Hạo trở nên thuần túy hình thức.
  2. Trong một ngữ đoạn sẽ xuất hiện quá nhiều động từ đi liền nhau, gây bế tắc trong việc xác định hạt nhân trung tâm theo trắc nghiệm Jakhontov (ví dụ: đang không muốn ăn sẽ có tới 3 động từ trung tâm).
  3. Các ĐTTT thực thụ (muốn, cần, định) có thể được tình thái hóa một lần nữa bằng các tác tử này (sẽ cần, đã định, đang muốn), trong khi các từ đã, đang, sẽ, không không có khả năng ngược lại (*cần sẽ, *định đã, *muốn đang).

3. Khái niệm "động từ bán tình thái" (semimodals) của R.W. Dixon được luận án vận dụng như thế nào?

Luận án tiếp thu luận điểm của R.W. Dixon (1991) về cấu trúc chuỗi động từ: trong một chuỗi nhiều vị từ tình thái đi liền nhau, chỉ có ĐTTT đứng đầu tiên mới là trung tâm bao trùm toàn chuỗi; các ĐTTT hoặc ĐT thường đi sau đóng vai trò bổ ngữ lâm thời mang ý nghĩa "phi điều kiện" (unconditional) và được xem là các động từ bán tình thái (ví dụ: trong chuỗi quyết định phải giả vờ làm mặt giận, quyết định là ĐTTT trung tâm, còn phải, giả vờ đóng vai trò động từ bán tình thái).

4. Hệ thống ĐTTT tiếng Việt được phân loại thành những lớp và tiểu lớp nào theo hướng ngữ nghĩa?

Luận án phân chia ĐTTT tiếng Việt thành hai lớp lớn:

  • Lớp ĐTTT nhận thức: Gồm 3 tiểu lớp: (1) Thực hữu (12 nhóm: bắt đầu, chấm dứt, tồn tại thời gian, tiếp diễn, bất ngờ, biến hóa, tâm sinh lý, cố ý, nỗ lực, tiếp nhận, giảm nhẹ có lợi, năng lực); (2) Phản thực hữu (toan, suýt, chực, hòng); (3) Không thực hữu (4 nhóm: mong muốn, chủ định, ứng phó, cân nhắc/lựa chọn).
  • Lớp ĐTTT đạo nghĩa: Gồm 4 tiểu lớp: (1) Bắt buộc (phải, cần, nên, trót, lỡ); (2) Cấm đoán (dám, nỡ, đành, đang tâm); (3) Được phép (có thể, được); (4) Miễn trừ (khoan, không thể).

5. Động từ tình thái có vai trò gì trong việc thực hiện các hành vi tại lời theo lý thuyết của J.R. Searle?

Luận án chứng minh ĐTTT tham gia trực tiếp vào việc điều chỉnh lực ngôn trung (illocutionary force) trong cả 5 lớp hành vi tại lời của Searle: điều chỉnh thang độ cam kết chân lý trong hành vi tái hiện; làm giảm hoặc tăng tính áp đặt chuẩn mực trong hành vi điều khiển; trực tiếp biểu đạt trạng thái cảm xúc trong hành vi biểu cảm; ràng buộc trách nhiệm của người nói trong hành vi cam kết; và thiết lập trạng thái pháp lý/thể chế trong hành vi tuyên bố.


Kết luận

Luận án Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt của Bùi Trọng Ngoãn là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tiểu lớp động từ tình thái trong tiếng Việt theo đường hướng ngữ pháp chức năng và ngữ pháp – ngữ nghĩa. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa các khung lý thuyết quốc tế chuẩn mực và cứ liệu tiếng Việt phong phú, luận án đã làm sáng tỏ vị thế trung tâm cú pháp của ĐTTT trong ngữ đoạn vị từ, phân lập chi tiết hệ thống ngữ nghĩa nhận thức – đạo nghĩa, và lý giải sâu sắc vai trò của ĐTTT trong việc điều chỉnh hiệu lực của các hành vi tại lời. Kết quả nghiên cứu của công trình mang lại giá trị lý luận vững chắc cho ngôn ngữ học Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn ngữ liệu và giải pháp ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình và nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ.