Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. KHÁI NIỆM TÌNH THÁI: Khái niệm tình thái (modality, modalité) thường được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ những mối quan hệ của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cũng như những quan điểm, thái độ, đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu nói, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp. Như thế, nói một cách sơ lược nhất, phạm trù tình thái bao gồm hai bình diện là mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn với thực tế. Tình thái trong quan niệm của lôgich học truyền thống: Trong lôgich học, khái niệm tính tình thái gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề lôgich dựa trên những đặc trưng cơ bản giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh mức độ phù hợp của phán đoán trong thực tế.
Các phán đoán được chia thành ba nhóm lớn là khả năng, tất yếu và hiện thực. Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng. Phán đoán tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng nêu ở vị từ có ở đối tượng trong mọi điều kiện, mọi thế giới khả năng. Phán đoán hiện thực xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của đặc trưng nào đó ở đối tượng.
Như vậy khái niệm tình thái (hay modus) của lôgich có thể được xem là tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, xem đó như một đặc trưng nội tại của bản thân cấu trúc chủ - vị từ lôgich, hoàn toàn trừu tượng hoá khỏi những nhân tố giao tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học: Trong những năm gần đây, khi ngữ pháp chức năng và dụng học trở thành mối quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học cũng là khi tính tình thái của ngôn ngữ tự nhiên trở thành một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn, vừa giúp họ lí giải tường minh hơn những vấn đề tưởng chừng đã ổn định của ngữ pháp - ngữ nghĩa truyền thống vừa mở ra được những hướng nghiên cứu có triển vọng. Họ nhận thức được rằng không có một nội dung nhận thức và giao tiếp nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ, đánh giá. của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp.
Sự phong phú và đa dạng của các nhân tố tình thái cũng là một nhân tố rất quan trọng để phân biệt ngôn ngữ tự nhiên ở con người với hệ thống tín hiệu của động vật. Sự quan tâm của giới nghiên cứu tới tính tình thái của ngôn ngữ tự nhiên cũng dẫn đến một hệ quả là đối tượng này được xem xét một cách đa diện và sự thừa nhận tính tình thái của ngôn ngữ tự nhiên vẫn còn là một vấn đề cực kì phức tạp: "Hai chữ tình thái vẫn thường đi đôi với nhiều định kiến sai lạc” [23, tr.66], “Không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và các thành tố ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái" [V. Panfilov, dẫn theo 38, tr. Tuy nhiên, mọi người đều thừa nhận rằng tính tình thái của phát ngôn thuộc bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa.
Tình thái là một bộ phận nghĩa tất yếu của mọi phát ngôn. Không thể có một câu nói không mang một tình thái nhất định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 9 Một cách chung nhất, đưa ra một phát ngôn có nghĩa là thông tin về một sự tình (sự thể). Trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn có hai thành phần cơ bản tương ứng với cách gọi của Bally là modus và dictum.
Trong đó dictum là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó. Do đó, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ. Modus là bộ phận tình thái, thuộc bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Bộ phận nghĩa tình thái tham gia vào quá trình thực tại hoá, biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực.
Nó cho biết, chẳng hạn, sự tình nêu ra trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thông tin đến đâu, đánh giá, tình cảm, mong muốn, ý đồ của người nói khi phát ngôn là thế nào. Ví dụ, một sự tình là “lúc này tám giờ sáng”, người ta có thể thể hiện những nội dung tình thái khác nhau: (1) Lúc này là tám giờ sáng. (2) Mới có tám giờ sáng thôi. (3) Chỉ mới tám giờ sáng.
(4) Đã tám giờ sáng rồi à? (5) Có phải bây giờ là tám giờ sáng không? (6) Không phải tám giờ sáng đâu. (7) Có lẽ tám giờ sáng rồi. Trong phát ngôn (1), người nói thể hiện thông báo của anh ta như một sự xác nhận, xác tín đối với người đối thoại về một sự tình coi là hiện thực. Trong phát ngôn (2), người nói vừa thông báo lúc này là tám giờ sáng vừa cho (LUAN.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 10 rằng thời điểm này là còn sớm so với thời điểm anh ta dự tính và thời điểm dự tính ấy được anh ta coi là điểm mốc.
Trong phát ngôn (3), người nói vừa thông báo về thời điểm hiện thực vừa cho rằng thời điểm này sớm hơn thời điểm mà anh ta nghĩ tới. Tương tự, ta thấy trong phát ngôn (4) vừa có thông tin miêu tả vừa có sự ngạc nhiên của người nói trước hiện thực. Trong phát ngôn (5), người nói vừa đưa ra một giả định về hiện thực vừa yêu cầu người nghe xác nhận về giả định đó. Sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn là một trong những đối lập cơ bản làm nên cơ sở cho lí thuyết tình thái.
Đồng thời, xuất phát từ sự nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác mà các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng những cách gọi, những thuật ngữ khác nhau như: modus/dictum, tình thái/ngôn liệu, tình thái/mệnh đề, tình thái/cơ sở mệnh đề, tình thái/propo. Sự khác biệt của cách dùng những thuật ngữ này đã bộc lộ rõ rệt những nét khác nhau trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về tình thái của ngôn ngữ tự nhiên. Nếu theo Fillmore [121, tr.23] thì cấu trúc nghĩa của một câu bao gồm hai thành phần chính: thành phần mệnh đề là tâp hợp những quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần còn lại là tình thái, gồm các loại ý nghĩa liên quan đến toàn bộ câu (the sentence - as - a - whole) như phủ định, thì, thức và thể. Quan niệm này được thể hiện trong công thức: S = M + P (trong đó S là nghĩa của câu, M là thành phần tình thái và P là thành phần mệnh đề).
Trong một chừng mực nhất định, có thể nói cách dùng cặp thuật ngữ của Ch. Bally: tình thái/nội dung mệnh đề được nhiều người chấp nhận hơn cả. Theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao gồm những ý nghĩa sau: (LUAN.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 11 (1) Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói hay theo lí thuyết hành vi ngôn ngữ là kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, đề nghị, cho phép, ra lệnh, bác bỏ, khuyên răn, mời mọc, cảm ơn. (2) Các ý nghĩa thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung được thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về mức độ quan trọng, về độ tin cậy, xem đó là điều tích cực (mong muốn, có lợi, tốt.) hay tiêu cực (không muốn, bất lợi, xấu.), bất ngờ - ngoài sự chờ đợi hay bình thường, về tính hiện thực hay tính khả năng.
(3) Các ý nghĩa thuộc sự đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình. (5) Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác nhau của phát ngôn với ngữ cảnh theo quan điểm của người nói. Chẳng hạn đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, các ý kiến khác nhau. Cách hiểu tình thái theo nghĩa rộng như vậy được Bybee diễn tả là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” [Dẫn theo 38, tr.
Tức là phạm trù tình thái bao gồm tất cả những phương diện nội dung gắn với sự thực tại hoá câu, biến các nội dung mệnh đề ở dạng tiềm năng trở thành các phát ngôn trong giao tiếp. Phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan: Lôgich học trong khi quan tâm đến giá trị đúng/sai của mệnh đề đã đề (LUAN.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 12 cập đến tình thái khách quan. Trong lôgich học, người ta chia thành lôgich vị từ và lôgich tình thái. Nếu xét theo lôgich vị từ thì “Nó đọc sách” có hai khả năng là đúng hoặc sai (song trị), trong khi đó lôgich tình thái tìm đến những khả năng khác nhau của nó (đa trị).
So sánh các phát ngôn: - Có thể nó đọc sách. - Nó đang đọc sách. - Nó sẽ đọc sách. Những tác tử tình thái đã khiến cho phát ngôn mang những khả năng ý nghĩa khác nhau.
Tình thái khách quan có ba tham số: - hiện thực / phi hiện thực - tất yếu / không tất yếu - có thể / không thể Trong khi lôgich học chỉ quan tâm tình thái khách quan, trình bày sự việc như nó vốn có và loại trừ vai trò của người nói, thì trong ngôn ngữ học tình thái chủ quan lại được coi trọng đặc biệt. Đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tình thái chủ quan và tình thái khách quan là vai trò của người nói hay tính chủ quan của người nói về sự đánh giá, mức độ cam kết của người nói với điều được nói ra.