chương 1, tác giả đã nêu ra những vấn đề thực tiễn là lý do để tác giả quyết định lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu này. Sau đó, tác giả đã xác định các mục tiêu, phương pháp, đối tượng, và phạm vi nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Cuối cùng, tác giả đã xác định về kết cấu xuyên suốt của luận văn để giải quyết những vấn đề nghiên cứu bên trên và hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu cần thực hiện. Tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về những cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu này.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm về động lực làm việc 2.1 Lý thuyết về Động lực Khái niệm về “Động lực” được định nghĩa là “quá trình khởi tạo và duy trì các hành vi hướng tới mục tiêu, cũng như là nguyên nhân khiến bạn phải hành động, từ đó miêu tả được lý do tại sao một người làm điều gì đó” (Niermeyer & Seyffert, 2021). Theo một định nghĩa khác, khái niệm về “Động lực” còn có thể được hiểu theo nghĩa là “những nhân tố thúc đẩy mỗi cá nhân cố gắng, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu đã đã đề ra” (Rheinberg, 2020). Thông qua cả hai định nghĩa bên trên, có thể nhận thấy được rằng động lực là “ một trong những yếu tố cần có trong mỗi con người để họ có thể gặt hái được thành công và hạnh phúc trong mọi hoạt động cuộc sống nói chung, và đặc biệt là trong ” công việc nói riêng.2 Lý thuyết về Động lực làm việc Khái niệm về “Động lực làm việc” được định nghĩa là “những mong muốn hoặc sẵn sàng nỗ lực trong công việc của một người” (Pancasila và cộng sự, 2020). Trong đó, các yếu tố thúc đẩy được động lực làm việc của một cá nhân có thể bao gồm rất nhiều các yếu tố khác nhau, ví dụ điển hình như: tiền lương và các lợi ích “ khác trong cuộc sống, mong muốn có địa vị và sự công nhận, cảm giác thành tích, mối quan hệ với đồng nghiệp, và cảm giác rằng công việc của họ là hữu ích hoặc ” quan trọng.
Theo một định nghĩa khác, có thể hiểu “Động lực làm việc” của các nhân viên chính là “chìa khóa thành công của tổ chức, mức độ cam kết, sự tham gia và năng lượng làm việc mà các thành viên của công ty mang lại” (Niati và cộng sự, 2021). Nói cách khác, dựa theo định nghĩa này, thì nếu như các nhân viên không có động “ 8 lực làm việc, các công ty sẽ bị giảm năng suất, mức sản lượng thấp hơn và có khả năng công ty sẽ không đạt được các mục tiêu quan trọng. ” Tóm lại, động lực làm việc chính là chiếc chìa khóa lên dây cót tinh thần để “ các nhân viên trong tổ chức có thể tìm thấy được sự yêu thích và sự hào hứng đối với công việc mà họ đang làm ở thời điểm hiện tại. Thông qua sự hứng thú đó, các nhân viên trong doanh nghiệp sẽ cảm thấy mong muốn được cống hiến và nỗ lực hơn để ngày càng hoàn thành được tốt công việc của bản thân mình.
Vì thế, đối với những người có động lực làm việc cao họ sẽ luôn sẵn sàng cố gắng và phấn đấu với nhiệm vụ của mình để thỏa mãn mục tiêu của bản thân. Cũng chính vì thế, chất lượng và hiệu quả công việc cũng được nâng cao hơn.3 Các thành phần tạo động lực làm việc cho nhân viên Thực tế cho thấy, động lực làm việc của đội ngũ nhân lực thường bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Trong số đó, có thể kể đến một số các thành phần có vai trò tạo động lực làm việc cho các nguồn nhân lực nói chung, cũng như các nhân viên kinh doanh nói riêng, cụ thể như sau (Niermeyer & Seyffert, 2021; Rheinberg, 2020): 1. Sự ghi nhận thành quả và công sức của các nhân viên bởi đội ngũ cấp trên, ban lãnh đạo và ban quản lý.
Chế độ lương thưởng và phúc lợi phù hợp với năng lực cá nhân và khối lượng công việc của các nhân viên. Các chế độ đào tạo và thăng tiến tạo điều kiện cho các nhân viên được phát triển năng lực và nâng cao vị trí trong doanh nghiệp. Sự lắng nghe nhân viên từ những đồng nghiệp và cấp trên trong cùng phòng ban và bộ phận. Sự khích lệ tinh thần làm việc và động lực của nhân viên bằng các buổi họp mặt hoặc ngoại khoá.
Môi trường làm việc thoải mái và thân thiện. Tính chất công việc phù hợp với năng lực, sở trường, và niềm yêu thích của nhân viên đối với nghề nghiệp. Khuyến khích tinh thần làm việc nhóm hoà hợp trong đội ngũ nhân lực với nhau. Phân quyền cho nhân viên một cách phù hợp và phân công công việc hợp lý cho mỗi nhân viên.4 Vai trò của động lực làm việc Đối với cá nhân những nguồn nhân lực trong tổ chức, động lực làm việc sẽ đóng những vai trò quan trọng như sau: + Giúp cho hoạt động lao động của các nhân viên có thể đạt được mục tiêu hoàn thành một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn.
+ Tạo được tinh thần năng động, tự do, và sáng tạo, cũng như nỗ lực cố gắng phấn đấu hơn trong công việc. + Hạn chế được cảm giác chán nản làm việc và gia tăng sự tập trung cao cho nhân viên. + Ngày càng tự hoàn thiện năng lực bản thân và nâng cao trình độ kiến thức, và kỹ năng làm việc. + Có sự nỗ lực tích hơn trong việc học hỏi và đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc.
Đối với các doanh nghiệp, việc tạo nên được động lực làm việc cũng có những vai trò rất quan trọng như là: + Tạo được sự gắn kết bền chặt và hoà hợp giữa nguồn nhân lực với bản thân các doanh nghiệp. + Giữ chân được những nhân viên tiềm năng và có chất lượng tiếp tục ở lại đồng hành cùng công ty. + Giảm thiểu được tỷ lệ nghỉ việc, tỷ lệ nghỉ việc và chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp khác. 10 + Nâng cao mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và sự tận tụy của các nhân viên trong doanh nghiệp.
+ Tiết kiệm được thời gian đào tạo, chi phí tuyển dụng và đào tạo các nhân viên mới. + Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong bộ máy quản trị nhân sự. + Gia tăng năng suất lao động của nguồn nhân lực, là cơ sở nền tảng để doanh nghiệp có thể gia tăng doanh số và cải thiện lợi nhuận. Các học thuyết nền tảng nghiên cứu về tạo động lực đối với người lao động 2.1 Lý thuyết bậc thang nhu cầu của Maslow "Lý thuyết bậc thang nhu cầu" là một lý thuyết nền tảng có nội dung chính đề cập đến lĩnh vực tâm lý học, được viết ra bởi nhà tâm lý học "Abraham Maslow" trong bài viết "A Theory of Human Motivation" vào năm 1943 và cuốn sách "Motivation and Personality" vào năm 1954 (Kunc, 2012, tr.
Trong đó, tác giả Maslow đã phân chia "Tháp nhu cầu" của người lao động ra thành năm tầng khác nhau, mà bắt buộc các doanh nghiệp cần phải đáp ứng được theo toàn bộ năm cấp bậc nhu cầu đó, để nâng cao được động lực làm việc của người lao động, cụ thể như sau: + (i) Tầng 1: các nhu cầu căn bản nhất thuộc về thể lý như thức ăn, nước uống, “ nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. ” + (ii) Tầng 2: nhu cầu yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức “ khỏe, tài sản được đảm bảo. ” + (iii) Tầng 3: nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc trong một “ nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. ” + (iv) Tầng 4: nhu cầu được quý trọng, kính mến, cần có cảm giác được tôn “ trọng, kính mến, được tin tưởng.
” 11 + (v) Tầng 5: nhu cầu về tự thể hiện bản thân cường độ cao, muốn sáng tạo, “ được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.1 Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Kunc, 2012.2 Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg "Lý thuyết hai nhân tố", hay còn thường được gọi với hai cái tên phổ biến khác là "Two Factor Theory" hoặc "Herzberg's Boby Motivation-Hygiene Theory", là lý thuyết nền tảng cũng có nội dung liên quan đến sự hài lòng và động lực làm việc của người lao động, được xây dựng nên bởi nhà tâm lý học "Frederick Herzberg" (Herzberg, 2018, tr. Trong lý thuyết này, tác giả đã đề xuất nên một mô hình để giúp cho các doanh nghiệp có thể hiểu được sự hài lòng, lòng trung thành, và động lực làm việc của các nhân viên trong tổ chức bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào những yếu tố chính nào, cụ thể được phân chia ra thành hai nhóm yếu tố chính sau đây (Herzberg, 2017, tr.362): 12 + (i) Nhân tố không hài lòng: Động lực làm việc của một nhân viên trong công “ việc tại một doanh nghiệp bất kỳ xuất phát từ các nguyên do như chế độ, chính sách, sự giám sát trong công việc, điều kiện làm việc, chế độ lương bổng, các khoản thù lao, quan hệ với đồng nghiệp các cấp không phù hợp và không đáp ứng mong đợi của nhân viên. ” + (ii) Nhân tố hài lòng: Động lực làm việc của một nhân viên trong công việc “ tại một doanh nghiệp bất kỳ xuất phát từ các nguyên do như sự thừa nhận của đồng nghiệp các cấp (ban lãnh đạo, quản lý) trách nhiệm, sự tiến bộ, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, cũng như sự tăng trưởng và kết quả làm việc đạt được như mong muốn vốn dĩ của nhân viên.3 Lý thuyết tạo Động lực cho Nhân sự của McClelland David McClelland đã tạo ra học thuyết tương tự trong chính tác phẩm của ông “ năm 1961: “The Achieving Society”. Trong đó, tác giả đã xác định được tổng cộng “ ba động lực mà ông tin rằng trong tất cả mỗi bản thân chúng ta đều có: nhu cầu về thành tích, nhu cầu liên kết và nhu cầu về quyền lực, cụ thể như sau: + (i) Thành tích: giúp cho các nhân viên cảm thấy có khát khao hoàn thành được những thử thách đặt ra trong công việc, bất kể phải đánh đổi những rủi ro thì họ vẫn sẵn sàng chấp nhận.